Chương 505: 506
Cách sống sót với tư cách con trai thứ của gia đình phép thuật · Miumiuma · 557 chương · ~72 phút đọc · Tạo 09/08/2026
Tập 1
"Tôi vô cùng vui mừng. Thật không ngờ lại có thể gặp được một người có suy nghĩ sâu sắc về cái chết và sự phục sinh tại Bamberg như thế này."
Ngay khi nhận được lời mời, tôi đã ngồi trong phòng làm việc riêng của Linh mục Ralph Huber và lên tiếng. Phía sau tôi là Emanuel và Đại công tước. Tôi nhìn Linh mục Ralph Huber, người vừa pha trà và đặt xuống trước mặt ba chúng tôi, rồi nói tiếp:
"Có vẻ như Linh mục cũng dành nhiều sự quan tâm đến cái chết và sự phục sinh nhỉ."
Có lẽ chính vì vậy mà ông ta mới sa vào bẫy cám dỗ của Pleroma. Linh mục Ralph Huber ngồi xuống ghế, không chút ngần ngại mà gật đầu đồng tình:
"Quan tâm chứ, đương nhiên là tôi rất quan tâm rồi. Tôi cũng có cùng cảm nhận với mục sư, rằng thời thế ngày nay đang dần trở nên sai lệch."
"Sai lệch theo hướng nào ạ?"
"Thời đại của chúng ta đã mất đi sự ổn định. Những truyền thống và luân lý vốn có mà Kitô giáo hằng duy trì đang bị rạn nứt, trong khi khoa học và lý trí bắt đầu thống trị khắp đại lục, kéo theo sự sụp đổ của cả những mặt tích cực mà truyền thống từng mang lại. Châu Âu hiện tại tựa như một kẻ mất đi gốc rễ, đang lảo đảo bước đi trên đống lửa lưu huỳnh thiêu đốt."
"Ra là vậy."
Linh mục Ralph Huber tuôn ra một tràng dài vô cùng lưu loát, dường như đây là những điều ông ta đã trăn trở từ rất lâu. Ông ta tiếp lời với gương mặt tràn đầy vẻ đau xót trước một thế giới suy đồi, chẳng khác nào dáng vẻ diễn thuyết của tôi lúc nãy:
"Biết bao người đang chìm đắm trong ảo tưởng. Họ tin rằng khi con người nắm giữ khoa học trong tay và thống trị trái đất, chúng ta đã trở thành những sinh vật tiến bộ hơn, lý trí hơn, và đang vững bước tiến về một tương lai hoàn mỹ hơn."
Đại công tước khẽ nhúc nhích ngón tay, có vẻ ngài rất muốn xen vào vài lời, nhưng nhờ nhớ lại lời dặn dò của tôi nên ngài vẫn im lặng và tập trung lắng nghe một cách nghiêm túc.
"Thế nhưng, khi một giải pháp mới được đưa ra để giải quyết một vấn đề, mọi người lại vờ như không thấy hoặc chẳng thèm suy nghĩ sâu xa về những góc khuất của chính giải pháp đó. Họ tin rằng bằng việc rũ bỏ đức tin vào Đấng Christ, con người đã có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình và thoát khỏi thời kỳ Kitô giáo ấu trĩ vốn chỉ biết làm nũng với Thần linh. Nghĩ lại thật đáng xấu hổ, bản thân tôi hồi còn học ở chủng viện cũng từng có suy nghĩ như vậy."
"Thì ra ngài từng nghĩ thế sao, thưa Linh mục. Vậy điều gì đã khiến ngài thay đổi góc nhìn?"
"Bởi vì tôi ngày càng nhận thức rõ thực tế của xã hội. Nếu khoa học thực sự làm cho cuộc sống của chúng ta sung túc hơn và mang lại hạnh phúc cho muôn người, thì tại sao số lượng những mảnh đời khốn khổ ngoài kia so với thời kỳ trước Cách mạng Khoa học chỉ có tăng chứ không hề giảm bớt dù chỉ một chút?
Trái ngược với tương lai màu hồng như trong tranh vẽ, thời đại của chúng ta không hề tiến bộ một cách lành mạnh trong mối quan hệ cộng sinh với khoa học, mà trái lại, đang biến khoa học thành một thứ tôn giáo mới để sùng bái. Thay vì Đấng Christ, con người giờ đây lại đi 'tin phụng' khoa học và lý trí. Điều này hoàn toàn lệch lạc. Họ chẳng qua chỉ thay đổi đối tượng sùng bái mà thôi, và trong chính quá trình đó, ngay cả những giá trị truyền thống cốt lõi cũng bị hủy hoại một cách nghiêm trọng."
Khoảng chừng…. Có gì đó sai sai ở đây. Thân phận của người nói và nội dung lời nói không hề đồng nhất với nhau. Tôi vội mở cửa sổ trạng thái để xác nhận lại cái tên Ralph Huber, rồi khẽ gật đầu ra hiệu bảo ông ta cứ tiếp tục nói.
"Tôi xót xa không phải chỉ vì họ không chịu bước vào vòng tay của Đấng Christ. Mà là vì chính họ đang tự tay tạo ra những tệ nạn cho thời đại của chúng ta. Đáng ngại hơn là dẫu có làm vậy, họ vẫn chẳng hề hay biết, họ không nhận thức được sai lầm đang diễn ra nên cũng chẳng thể sửa chữa. Đức trung dung mà Aristotle và Nho gia hằng răn dạy hoàn toàn vắng bóng ở nơi này."
"Ngài cũng am hiểu cả triết học phương Đông nữa sao."
Nếu ông ta từng có ý định học hỏi một cách rộng mở ở trường đại học, thì việc tiếp cận những kiến thức này cũng không phải là điều gì quá khó khăn.
Tôi và Maria nhìn nhau. Ánh mắt của Maria như muốn hỏi tôi rằng cái người này mà thực sự là kẻ tội lỗi đi lầm đường lạc lối hay sao. Dẫu quan điểm của mỗi người có thể khác nhau, nhưng lập trường này lại là thứ thường xuyên xuất hiện trong giới trí thức suốt từ thời đại này cho đến tận thế kỷ 21 ở thế giới mà tôi từng sống, chứ quyết không phải là tư tưởng đặc trưng của bọn Pleroma. Nghĩa là Linh mục Ralph Huber đang trò chuyện một cách vô cùng tỉnh táo và bình thường.
Cả dưới góc nhìn của Maria, và thậm chí là dưới góc nhìn của tôi.
Linh mục Ralph Huber lộ rõ vẻ ưu tư rồi nói:
"Con người luôn tin rằng nếu không phải cái này thì bắt buộc phải là cái kia. Họ bảo Kitô giáo sai thì khoa học phải là ngọn hải đăng chỉ đường, còn nếu khoa học sai thì Kitô giáo phải là đức tin duy nhất. Kiểu tư duy nhị nguyên 'nếu không phải cái này thì là cái kia' chính là sản phẩm của sự vô tri đáng thương, xuất phát từ những kẻ không có năng lực tự mình tư duy và cũng chưa từng thử làm điều đó.
Trên thực tế, những tệ nạn sinh ra từ việc 'tin phụng' khoa học về bản chất chẳng có gì khác biệt so với những tệ nạn từng xuất hiện vào thời kỳ Kitô giáo thống trị châu Âu. Tôi cảm giác Mục sư Ulrich Wirth đây dường như cũng có cùng suy nghĩ này, nên tôi rất muốn được đàm đạo sâu hơn."
"Rất sẵn lòng ạ. Thế nhưng tôi đang vô cùng kinh ngạc trước những kiến thức uyên bác của Linh mục, nên lúc này tôi lại muốn được lắng nghe ngài chia sẻ nhiều hơn. Ngài có thể nói rõ hơn về những tệ nạn đó được không?"
"Tân nhân loại vứt bỏ con người."
Lời nói thẳng thừng và trực diện ấy khiến cả ba chúng tôi đồng loạt lặng người đóng băng. Nhưng không cần phải căng thẳng làm gì. Linh mục Ralph Huber không hề biết chúng tôi thuộc phe Tân nhân loại. Bởi phần lớn dân số đều là Cựu nhân loại — và hiển nhiên Linh mục Ralph Huber cũng là Cựu nhân loại — nên ông ta mới nghĩ vậy. Tôi đè nén tiếng tim đang đập có chút dồn dập trong lồng ngực rồi khẽ gật đầu. Linh mục Ralph Huber lặp lại lời mình vừa nói rồi tiếp tục:
"Tân nhân loại vứt bỏ những kẻ không đáp ứng được kỳ vọng của họ. Và Cựu nhân loại cũng sẽ làm điều tương tự nếu có đủ điều kiện. Thực ra thì họ đã và đang làm như vậy rồi. Chẳng qua là họ không nhận thức được bản thân mình đang làm việc đó mà thôi. Thật đáng tiếc khi tất cả đều chung một bản tính con người, nên dẫu ở đâu đi chăng nữa cũng chẳng tồn tại một niềm hy vọng tuyệt đối nào cả.
Thuở ban đầu khi nhân loại tiến hành cải tạo con người và tạo ra một chủng tộc mới, những nhà khoa học mới ấy, tức là các ma pháp học giả, đã vô cùng kỳ vọng vào tương lai. Họ tin rằng một ngày mai tươi sáng hơn sẽ mở ra trước mắt nhân loại. Thế nhưng kết cục có được như vậy không? Theo tôi thấy, cuộc sống của Tân nhân loại chẳng có gì khác biệt lớn so với Cựu nhân loại cả. Họ không hề trở nên tốt đẹp hơn, mà trái lại, vẫn mang trong mình sự độc ác và hủ bại hệt như những con người bình thường chúng ta."
Đại công tước rõ ràng đang lộ ra sự quan tâm sâu sắc trước những lời ông ta nói. Nhưng thật may là ngài vẫn ngồi im lặng lắng nghe, không đưa ra bất kỳ câu hỏi hay phản ứng nào quá lộ liễu. Tất cả chúng tôi đều muốn nghe thêm, và ông ta vẫn tự động bộc bạch mà không cần ai phải thúc ép:
"Chúng ta phải ghi nhớ một điều rằng, trong quá trình con người vứt bỏ Thần linh sau thời kỳ Khai sáng, họ cũng đồng thời từ bỏ luôn cả những giá trị truyền thống. Đây không phải là chuyện có thể lựa chọn lấy một trong hai, mà là một hệ quả tất yếu đi liền với nhau. Do đó, điều tuyệt vọng nhất chính là việc sự tồn tại của Tân nhân loại không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc làm minh chứng cho thấy nhân loại đã bước đi sai đường."
"Vậy thì còn có thể có vấn đề nào nghiêm trọng hơn nữa sao?"
"Cựu nhân loại rồi đây sẽ đều trở thành Tân nhân loại, và chính thứ đó sẽ biến thành cái gọi là 'nhân loại'."
Tôi nín thở. Emanuel và Đại công tước cũng đồng thời đưa mắt nhìn nhau. Một sự bàng hoàng ngơ ngác bao trùm bầu không khí.
Ralph Huber đang nói chuyện như thể ông ta là một kẻ vừa trở về từ thế kỷ 21 vậy. Cái thế kỷ 21 nơi mà sự ra đời của một tân nhân loại cùng thuyết tân ưu sinh đang nhen nhóm những tia sáng đầy nguy hại từ phía cuối chân trời. Công nghệ chỉnh sửa gen biết đâu một ngày nào đó sẽ nâng cấp con người lên một tầm cao mới. Chẳng có gì đảm bảo điều đó sẽ không xảy ra cả. Chính vì vậy, dưới góc nhìn của tôi, thế kỷ 19 ở nơi này không phải là quá khứ, mà chính là tương lai.
Dẫu ông ta không có cùng quan điểm với tôi trên mọi phương diện, nhưng ít nhất là ngay vào lúc này, những suy nghĩ của ông ta về bản chất hoàn toàn trùng khớp với những điều tôi từng trăn trở về thế giới này cách đây không lâu.
"Một khi công nghệ đã hiện hữu trên đời và nền tảng để phát triển công nghệ đã được tạo dựng, bước chuyển mình này là không thể đảo ngược. Khác biệt chăng chỉ là nó sẽ đến sau 100 năm hay 200 năm mà thôi. Vài trăm năm sau, con người sống trên đời thảy đều sẽ là Tân nhân loại. Bởi lẽ ai chẳng muốn con cái mang dòng máu của mình sẽ có được nhiều 'lợi thế' hơn người khác.
Hiện tại vương quyền đang độc chiếm quyền lực nên không cho phép toàn bộ nhân loại được Tân nhân loại hóa, nhưng một khi vương quyền sụp đổ, toàn bộ nhân loại cuối cùng rồi cũng sẽ bị thay thế bởi Tân nhân loại mà thôi. Nếu không có công nghệ thì mọi chuyện sẽ cần thêm thời gian, nhưng một khi công nghệ đã có sẵn và cả thế giới cùng chia sẻ nó, con người sẽ chẳng chút ngần ngại mà lao vào. Thứ dung túng cho điều đó chính là sự sùng bái khoa học và lý trí.
Chúng ta đã không còn cách nào để ngăn chặn lòng tham vô đáy của con người nữa rồi."
Sắc thái tôn giáo đậm nét trong lời nói của ông ta tuy không mấy phù hợp với một kẻ vô thần như tôi, nhưng lúc này đó không phải là vấn đề trọng tâm. Tôi đến đây vì đinh ninh ông ta là người của Pleroma, thế nhưng ông ta lại đang thao thao bất tuyệt về một câu chuyện hoàn toàn khác. Để nắm bắt được ý đồ thực sự của ông ta, tôi tiếp tục im lặng gật đầu.
"Thậm chí, lòng tham này còn đang được hợp thức hóa bằng những học thuyết kinh tế. Chẳng cần tôi phải giải thích dông dài thì chắc chắn mục sư đây cũng đã thấu tỏ rồi. Dẫu cho thế giới quan Kitô giáo có liên tục trải qua các thời kỳ hủ bại rồi lại cải cách, thì về mặt căn bản, nó vẫn đóng vai trò như một bức tường thành truyền thống ngăn chặn sự suy đồi này, thế nhưng giờ đây bức tường thành ấy đã không còn nữa.
Nếu mục sư có suy nghĩ ngược lại với tôi, thì ngài bắt buộc phải đưa ra được những luận cứ chuyên sâu để giải thích xem tại sao trong một thời đại tràn ngập những giá trị của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản hiện hành, đại chúng lại không lựa chọn phương thức giúp bản thân trở nên 'lợi thế' hơn những người khác.
Nhiều người sẽ đem những vấn đề luân lý ra để bàn luận, chẳng hạn như cái sự 'lợi thế' đó đã được cân đo đong đếm bằng những tiêu chuẩn ưu sinh học tuyệt vọng đến nhường nào, nhưng cái kiểu suy nghĩ đúng đắn lý thuyết ấy thì ngay đến đứa trẻ lên năm đi ngoài đường cũng nói được. Chớ bận tâm, nào phải vì người ta không biết đó là vấn đề nên mới hành động như vậy đâu! Sự ly gián giữa luân lý và thực tế đang kéo nhân loại vào hố sâu suy thoái.
Một khi bản thân hay gia đình họ đứng trước cơ hội có được 'lợi thế' hơn người khác, họ sẽ lập tức vứt bỏ những lời hay ý đẹp để chộp lấy cơ hội ngay, và trên thực tế là họ đã làm như vậy rồi. Chẳng phải những Tân nhân loại được tạo ra trong phòng thí nghiệm bằng ma lực và kỹ nghệ chiếm đoạt được từ ma pháp vẫn đang hiên ngang đi lại giữa xã hội kia sao."
Tôi có vẻ đã hiểu được phần nào lý do tại sao Linh mục Ralph Huber lại cảm động trước bài thuyết giảng của mình đến thế. Ông ta đang vô cùng lo ngại trước cái thời thế nơi khoa học định nghĩa lại con người. Thấy ba chúng tôi cứ ngồi trơ ra như tượng đá, Linh mục Ralph Huber chợt thoáng chút bối rối rồi vội xua tay:
"Nói đến đây chắc là dễ gây ra hiểu lầm rồi. Tất nhiên tôi không nghĩ mục sư đây sẽ đi báo cáo tôi với cảnh sát, và dẫu ngài có làm vậy đi chăng nữa thì tôi cũng chẳng có ý định thay đổi quan điểm của mình như cỏ gặp gió đâu, nhưng chuyện này tôi cần phải nói cho rõ ràng. Một vài tri thức Cựu nhân loại thường rêu rao rằng 'những Tân nhân loại mang lớp vỏ bọc thần học nhưng thực chất lại được vũ trang bằng khoa học chính là nguồn cơn của mọi tội ác', nhưng sai rồi.
Làm gì có cái gọi là 'nguồn cơn của mọi tội ác' cơ chứ! Tất cả mọi người đều góp một tay để tạo nên cái ác, vậy mà giờ đây lại dửng dưng phê phán như thể đó là chuyện của người khác sao? Những kẻ tạo ra Tân nhân loại bằng phương thức khoa học chẳng phải ai khác ngoài chính nhân loại, và cái gọi là nhân loại ấy chính là chủng người hiện sinh đang được gọi là Cựu nhân loại hiện nay đấy thôi. Nguyên nhân cốt lõi chính là do lòng tham.
Chính vì cái lòng tham chưa từng biến mất dẫu chỉ một lần trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Nói cách khác, đây là vấn đề của toàn thể con người."
"Ngài cứ tự nhiên nói tiếp đi ạ. Tôi không báo cáo ngài đâu, và cũng chẳng hề có ý định đó."
"Cảm ơn mục sư. … Tuy nói như vậy, nhưng niềm hy vọng cũng chỉ có thể tìm thấy ở nơi con người mà thôi. Thế nhưng, trong một hiện tại mà chúng ta không thể đứng ngoài quan sát như thể đang dõi theo lịch sử đã lùi xa, lồng ngực tôi chỉ còn lại duy nhất một nỗi buồn đau da diết. Biết bao kẻ tư sản bất chấp nhân luân ngoài kia chẳng thèm bận tâm xem người lao động phải ngủ bờ ngủ bụi trên những sợi dây thừng, hay bị mất đi chân tay, hoặc bị thối rữa cả xương hàm trong các nhà máy.
Thứ duy nhất chúng muốn chỉ là làm sao cho số tiền trong túi mình ngày một sinh sôi nảy nở mà thôi. Đây chính là đoạn kết của một xã hội nơi các giá trị truyền thống và luân lý như Kitô giáo đã hoàn toàn sụp đổ. Tôi nghe nói ở phương Đông, ngay tại một nơi như nhà Thanh kia, những giá trị thâm sâu được các nhà tư tưởng của họ tích lũy suốt hàng ngàn năm qua cũng đang trên đà đổ vỡ. Việc toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ bởi ma lực đang khiến cả thế giới cùng suy đồi theo một phương thức giống hệt nhau.
Liệu khi thế kỷ 20 mở ra, mọi chuyện có khá khẩm hơn không? Cứ cái đà này thì dẫu có một trăm năm hay một ngàn năm trôi qua, bọn tư sản cũng chẳng thèm hoài nghi xem có ai phải bỏ mạng hay không đâu. Thậm chí chúng còn nhào nặn và bóp méo các định luật khoa học để sử dụng một cách vô tội vạ theo ý mình, mà điển hình chính là cái định luật cá lớn nuốt cá bé và dĩ cường thắng nhược. Chưa dừng lại ở đó, con người ta còn đang vung vẩy sức mạnh của y học chỉ để chứng minh cho sự ưu việt của dân tộc mình."
Trước những lời cảm thán đầy ai oán của Linh mục Ralph Huber, tôi lặng lẽ lên tiếng đáp lời:
"Chẳng hạn như việc dùng các bài kiểm tra trí tuệ để phân biệt đối xử với chính người dân trong nước và sàng lọc người nhập cư đúng không ạ."
"Chuyện đó thực sự là tồi tệ nhất đấy."
Linh mục Ralph Huber trợn ngược mắt, nghiêng đầu nhìn tôi với vẻ mặt kiểu "đây rốt cuộc là cái quái gì thế". Tôi khẽ lắc đầu, ông ta liền buông một tiếng thở dài thườn thượt:
"Diện mạo của những kẻ cuồng tín biến khoa học thành tôn giáo để sùng bái chính là như vậy đấy. Vì mải mê sùng bái thế giới quan khoa học mà đập phá toàn bộ truyền thống, hạ thấp giá trị tu tập tinh thần của tôn giáo, tất cả những điều này đều xuất phát từ những kẻ cuồng tín sùng bái khoa học như một thứ tân tôn giáo, bọn tư sản thì cổ vũ cho đám cuồng tín đó, và những kẻ thiếu năng lực tư duy phản biện thì chỉ biết nhắm mắt xuôi tay đi theo bọn tư sản và lũ cuồng tín kia.
Chúng cho rằng những người nghèo khổ dẫu có chết đi cũng chẳng sao cả. Chúng quyết không bao giờ nói ra bằng lời đâu, nhưng cái hệ thống cảnh báo nguy hiểm tiềm ẩn sâu trong thâm tâm chúng lại chẳng hề có chút phản ứng nào trước nỗi đau của những kẻ thiếu thốn tiền bạc. Chính vì vậy nên tôi mới dành lời tán thưởng cho luận điểm về khoa học của mục sư.
Không được thiên lệch về bên này, cũng không được thiên lệch về bên kia, vậy mà con người ta lại mải mê cuồng nhiệt trước những thứ mới mẻ vừa xuất hiện thay vì Đấng Christ, để rồi không thể dùng lý trí mà cân đo đong đếm hai mặt sáng tối của mọi sự việc. Tất cả những điều này vốn dĩ đều có sợi dây liên kết với nhau, vậy mà chẳng một ai thấu tỏ thực tế ấy cả. Do đó, ngay cả giới tôn giáo lúc này cũng đang sai lệch một cách nghiêm trọng rồi!
Đáng ra chúng ta không được phép dung túng cho cái thuyết quyền lực thần thánh của nhà vua phiên bản thứ hai kiểu 'ma lực chính là ân điển của Thần linh' như thế này. Chẳng phải vì họ có thể phân định xem ai là kẻ ưu việt hơn mà không hề mảy may cắn rứt lương tâm nên điều đó mới có thể xảy ra sao. Họ đang khoác lên mình tấm áo choàng tôn giáo nhưng tâm can thì đã rời xa ý nguyện của Đấng Christ từ lâu rồi!"
Nghe đến cụm từ "thuyết quyền lực thần thánh của nhà vua phiên bản thứ hai", tôi liền nói ra những lời mình từng thổ lộ trước mặt Ismailov ngày trước, và cả những suy nghĩ luôn thường trực trong tâm trí tôi kể từ khi đặt chân đến nơi này — hay nói một cách bản chất hơn, là kể từ khi tôi thoát khỏi thời kỳ ấu trĩ để có được năng lý trí của riêng mình:
"Chẳng có từ ngữ nào đáng cay đắng hơn cụm từ 'Ancien Régime'."
"Chính là nó đấy, thưa mục sư. Tầm nhìn thời thế của mục sư hoàn toàn đồng điệu với tôi. Thật nực cười khi những con người đang sống trong thời đại này lại gọi chế độ hoàng quyền của Pháp ngày trước là 'Ancien Régime', từ ngữ luôn phản ánh chính xác suy nghĩ của kẻ sử dụng nó.
Con người hiện tại tuy khoác lên mình một hình thái khác nhưng về bản chất vẫn đang phạm phải những tội ác tương tự, vậy mà họ lại đùn đẩy toàn bộ tội lỗi đó cho quá khứ rồi thản nhiên tuyên bố rằng 'chúng ta đã thoát khỏi những phiền não và sự suy thoái của ngày xưa'.
Thế nhưng, dẫu hình thức của sự việc có khác nhau, chúng ta vẫn đang phải trải qua những vấn đề có cùng một bản chất, vậy mà chúng ta lại không nhận thức được cái bản chất tương đồng ấy, thật tình thì nếu cứ giữ nguyên trạng thái này, dẫu có một thế kỷ trôi qua thì cục diện vẫn sẽ dậm chân tại chỗ mà thôi. Nghĩ đến cảnh những con người khốn khổ ngoài kia dẫu có qua một thế kỷ nữa cũng không hề giảm bớt, tôi thực sự không thể nào tin nổi…."
Linh mục Ralph Huber đưa tay lên quệt trán vẻ đau đầu rồi nhắm nghiền mắt lại. Ông ta giữ nguyên dáng vẻ đó và tiếp tục nói:
"Chỉ có những con người nỗ lực để không bị cuốn theo dòng chảy sai lệch ngay giữa tâm bão suy đồi mới có thể thay đổi được thời đại. Thế nhưng, việc đó mới xa vời làm sao. Nếu nhìn từ đằng xa, 100 năm của lịch sử nhân loại chỉ ngắn ngủi như một cái chớp mắt, nhưng dưới góc nhìn của những con người đang sống ở hiện tại như chúng ta thì hoàn toàn không phải vậy. Một năm này là cả một chặng đường đau khổ dài đằng đẵng. Chúng ta không thể bỏ mặc một kẻ đang đói rã ruột suốt một tháng trời được.
Bởi vì trong khoảng thời gian đó, anh ta sẽ phải bỏ mạng mất. Tôi không thể nào khoanh tay đứng nhìn những người anh em, những người chị em của chúng ta phải chịu đựng sự dày vò đau đớn như vậy."
Tôi chậm rãi gật đầu.
Chao ôi, mọi chuyện lại diễn ra theo một chiều hướng hoàn toàn nằm ngoài dự tính rồi…. Thế nhưng, tôi vẫn không thể lơ là cảnh giác. Việc quan điểm của ông ta có đồng nhất với tôi ở phương diện nào, hay không đồng nhất ở phương diện nào đi chăng nữa thì cũng chẳng phải là điều quan trọng. Nhìn bề ngoài thì chúng tôi tụ họp tại nơi này là để cùng nhau đàm đạo về các vấn đề xã hội, thế nhưng mục tiêu của tôi quyết không nằm ở đó.
Việc ông ta sở hữu những suy nghĩ sâu sắc tích lũy qua năm tháng cũng chẳng thể làm bằng chứng khẳng định ông ta không phải là người của Pleroma. Tôi nhoài người về phía trước rồi cất tiếng hỏi:
"Nếu đã không thể khoanh tay đứng nhìn những kẻ khốn khổ, ngài dự định sẽ làm thế nào ạ?"
"Tôi muốn đưa càng nhiều người trở về với vòng tay của Đấng Christ càng tốt. Chính vì đây là thời kỳ khoa học đang bành trướng thế lực, nên tôn giáo mới có thể đảm nhận vai trò trung dung, khác hẳn với thời kỳ tôn giáo độc tôn ngày trước. Chúng ta không thể ngăn chặn dòng chảy của khoa học.
Nhưng để không biến khoa học thành vũ khí mà sử dụng nó vào mục đích tốt đẹp, nếu con người ta có thể thông qua tôn giáo để khắc ghi lại luân lý và khơi dậy ý thức cộng đồng, chẳng phải xã hội của chúng ta sẽ trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều sao?"
"Vậy còn chuyện cái chết và sự phục sinh thì sao ạ?"
"Cũng tương tự như vậy thôi. Những kẻ bước qua cánh cửa hẹp và tiến đi trên con đường hẹp sẽ có được sự sống đời đời. Và việc bước qua cánh cửa hẹp cũng đồng nghĩa với việc sống một cuộc đời thiện lương, biết lo lắng và yêu thương người khác, biết bước vào một thế giới của sự tôn trọng và hòa bình. Nếu số lượng những kẻ đắc đạo tăng lên, thế gian tự khắc sẽ tìm lại được sự ổn định."
"Thế nhưng trên đời này có biết bao kẻ không chịu bước qua cánh cửa hẹp đó sao. Chẳng phải vì vậy nên Thần linh mới đẩy đứa con trai duy nhất của mình là Đấng Christ vào chỗ chết hay sao."
"Chính vì thế nên vai trò của một giáo sĩ như tôi mới trở nên vô cùng quan trọng. Của tất cả các giáo sĩ chúng ta."
Không phải rồi, đây quyết không phải là câu trả lời thích hợp cho tình huống này. Ông ta đã đưa ra một câu trả lời quá đỗi khuôn mẫu của một giáo sĩ chính thống. Tôi nghiêng đầu, tiếp tục đưa ra một câu hỏi đi sâu vào bản chất hơn:
"Ngài không hề có hứng thú với việc hiện thực hóa sự phục sinh ngay trên mặt đất này sao?"
Ralph Huber trưng ra một nụ cười đầy thắc mắc với vẻ mặt kiểu "chẳng phải lúc nãy tôi đã trả lời rồi sao", rồi cất tiếng:
"Việc bước qua cánh cửa hẹp chính là lời khẳng định cho việc hiện thực hóa sự phục sinh ngay trên mặt đất này rồi còn gì. Xác thịt không hề định đoạt mạng sống của một con người giống như những luận điệu của bọn duy vật giáo điều rêu rao. Nó chẳng qua chỉ là một ô cửa sổ giúp linh hồn giao tiếp mà thôi. Do đó, giống như việc Chúa đã ngự xuống bên cạnh chúng ta để khôi phục lại mối thông công, sự phục sinh của xác thịt cũng đồng nghĩa với việc khôi phục lại tình yêu thương giữa con người với con người.
Giáo sĩ chúng ta đang ngày đêm thực hiện công việc đầy ý nghĩa là đưa tất cả mọi người bước qua cánh cửa hẹp, và chúng ta phải luôn ghi nhớ sứ mệnh cao cả đó của mình."
Lần này cũng không phải. Ông ta tư duy theo một phương thức quá đỗi 'giáo sĩ' và đưa ra một câu trả lời quá đỗi rập khuôn. Để một lần nữa lột phăng mặt nạ của ông ta ra, tôi trầm ngâm suy nghĩ rồi gằn giọng nói:
"Chúng ta không được phép lãng quên những kẻ đã trỗi dậy từ nấm mồ."
"Nấm mồ sao? Vâng, để khôi phục lại mối thông công thì chúng ta cũng không được phép lãng quên những người đã khuất. Chúng ta phải đối xử bằng tình yêu thương với tất cả những người đã sống và đi trước chúng ta."
Vẫn không phải! Tôi lắc đầu, khẽ nheo mắt lại rồi nói:
"Thuở ban đầu chẳng phải đã có Ngôi Lời rồi sao."
Nghe vậy, Ralph Huber thoáng chút ngơ ngác khi thấy tôi bất ngờ khơi gợi lên câu chuyện đó, nhưng ông ta vẫn gật đầu đồng tình:
"Đúng vậy. Thời đại này quả thực là lúc chúng ta cần phải khôi phục lại Ngôi Lời."
Tôi khẽ thở hắt ra một tiếng rồi tựa lưng vào thành ghế. Ralph Huber thấy biểu cảm của tôi và Emanuel liền có chút dè chừng, vờ như bản thân vừa lỡ lời điều gì.
Ông ta đang ông nói gà bà nói vịt. Không chỉ lời nói mà ngay cả những phản ứng phi ngôn ngữ bao gồm cả biểu cảm gương mặt cũng đều chứng thực cho điều đó. Câu nói 'Thuở ban đầu đã có Ngôi Lời' là một đoạn trích trong Kinh Thánh được nhân vật Faust dẫn lại, và trong thế giới của bọn Pleroma, đây thường được xem như một câu mật mã để chúng nhận diện ra nhau.
Nếu đã nhắc đến Ngôi Lời, thì ít nhất ánh mắt của ông ta phải có sự thay đổi, hoặc phải lên tiếng hỏi xem tôi có biết về điều đó hay không, hay đưa ra bất kỳ phản ứng tương tự nào mới đúng. Nếu như ông ta thực sự là người của Pleroma.
Chẳng lẽ bọn Pleroma đã lập ra giáo lý và phương thức giảng luận của riêng mình muộn hơn dự kiến sao? Điều đó tuy có khả năng, nhưng để dụ dỗ được một giáo sĩ của Giáo hội Công giáo La Mã, chúng bắt buộc phải sở hữu một hệ thống lý luận đủ chặt chẽ, và ngay từ đầu để tập hợp tín đồ thì chúng phải có những luận điểm đặc thù của riêng mình, dẫu cho nó không đến mức phức tạp như năm 1898.
Nếu như chúng chỉ đơn thuần dùng sự trường sinh bất tử để dụ dỗ, thì liệu một giáo sĩ có nhiều trăn trở suy nghĩ như thế này có thể nhắm mắt xuôi tay tiếp nhận một lời khẳng định hão huyền như vậy mà không hề có chút hoài nghi nào không? Nếu ông ta là một kẻ mù quáng đến nhường ấy, thì đáng ra lúc này thấy tôi có vẻ đồng điệu quan điểm, ông ta đã phải mở lời 'chỉ cho tôi cách để có được sự sống đời đời' rồi mới phải.
Thế nhưng ông ta lại chỉ thao thao bất tuyệt về câu chuyện độc tôn sùng đạo rằng muốn có sự sống đời đời thì bắt buộc phải bước vào vòng tay của Đấng Christ. Đến nước này thì….
Tôi đã có thể mường tượng ra được phần nào diễn biến của mọi chuyện.
Tôi xin phép đứng dậy một lát, rồi nắm lấy cánh tay Emanuel kéo ra khỏi phòng. Sau khi giăng ma pháp cách âm lên, tôi liền nói:
"Không thể nán lại nơi này được nữa rồi. Chúng ta phải lập tức di chuyển đến Nuremberg. Tiếp theo đó là Regensburg, rồi đến Augsburg nữa. Sau đó chúng ta mới quay trở lại Bamberg."
"Bây giờ ngài Everett định mang cái tác phẩm của John Bunyan với cái câu thoại Jesus calls us đó đi càn quét khắp đất nước này đấy à?"
"Không phải là Jesus calls us, mà là < Lời Kêu Gọi của Chúa: Một Luận Văn Ngắn Về Cái Chết và Sự Phục Sinh >."
"Đúng là không phải người bình thường mà. Được rồi, nhưng nếu di chuyển với tốc độ chóng mặt như vậy thì chẳng phải sẽ bị phát hiện ra thân phận ma pháp sư sao."
"Nếu có ai hỏi, cứ bảo là chúng ta sử dụng cổng dịch chuyển di động của Mỹ mang sang là được."
"Làm vậy là phạm pháp đấy!"
"Chúng ta đã chuẩn bị sẵn tiền bảo lãnh rồi nên đâu có sao chứ? Không ngờ điện hạ lại nghiêm chỉnh chấp hành quy định đến vậy đấy."
Emanuel kinh ngạc định giơ tay giữ tôi lại, nhưng tôi đã né được ông ấy để bước trở vào phòng, rồi quay sang nói với Ralph Huber:
"Thưa Linh mục. Buổi trò chuyện hôm nay thực sự rất thú vị. Nếu xung quanh ngài có ai quan tâm đến câu chuyện của tôi, xin vui lòng gửi thư cho người đó giúp tôi nhé. Vì có khả năng ngay trong tuần này tôi sẽ phải rời khỏi Đức một thời gian ngắn, nên trước lúc đó tôi rất muốn được diện kiến càng nhiều đồng chí càng tốt."
Ralph Huber thoáng chút ngạc nhiên trước lời thỉnh cầu lan tỏa thông điệp của tôi, nhưng ông ta vẫn vui vẻ đáp lời:
"Lan tỏa cho những người xung quanh sao? Vâng. Được chứ. Bản thân tôi cũng rất vui mừng khi được gặp gỡ một người tràn đầy đức tin như mục sư đây. Tôi rất mong sẽ có cơ hội được tái ngộ, liệu trước khi mục sư trở về Mỹ, chúng ta có thể gặp lại nhau để đàm đạo thêm không?"
"Đương nhiên rồi, thưa Linh mục. Đó quyết là một vinh hạnh không gì sánh bằng đối với tôi."
Tôi chìa tay ra định làm thủ tục chào tạm biệt ông ta. Thế nhưng, Ralph Huber không nắm lấy tay tôi mà lại búng tay một cái tách:
"Ồ, tôi chợt nhớ ra mình có một người bạn rất muốn được lắng nghe bài thuyết giảng của mục sư đấy."
Một người bạn sao. Tôi quyết không thể rời đi mà không hỏi rõ ngọn ngành câu chuyện này. Ngay từ đầu, vì nghi ngờ việc Ralph Huber vào thời điểm này vẫn chưa gia nhập Pleroma nên tôi mới cố tình dặn dò ông ta 'nếu xung quanh ngài có ai quan tâm đến câu chuyện của tôi, xin vui lòng gửi thư cho người đó'.
"Có bạn cơ ạ. Vậy người bạn đó tên là gì thế ạ?"
"Sara Hohenfels."
Nghe thấy cái tên đó, tôi đã phải dốc hết sức bình sinh để không nhắm nghiền mắt lại hay lộ ra vẻ mặt cau có. Tôi vờ như không biết mà cất tiếng hỏi:
"Hohenfels sao. Là quý tộc ạ?"
Theo tôi được biết thì gia tộc Hohenfels hiện diện ở cả Württemberg lẫn Eichstätt thuộc Bayern…. Nhưng gia tộc Hohenfels ở Bayern đã lụi tàn từ hàng trăm năm trước rồi cơ mà.
"Là cựu quý tộc thôi. Giờ đây đó là một gia tộc không còn tồn tại nữa, tôi cũng chẳng rõ tại sao cô ấy vẫn giữ được họ đó, nhưng nghe đâu là một nhánh bàng hệ xa xôi nào đó. Thực tế thì cô ấy cũng không phải là quý tộc nên thuộc phe Cựu nhân loại."
"Tôi rất muốn được nghe thêm câu chuyện về cô Sara Hohenfels này đấy."
"Là bạn thanh mai trúc mã của tôi. Chúng tôi lớn lên cùng một khu phố và cô ấy lúc nào cũng say mê với các hoạt động tôn giáo. Một tín đồ vô cùng độc sùng."
"Nói thêm chút nữa đi ạ."
Tôi cần phải tìm cách khai thác thêm những thông tin của năm 1898. Dựa theo những thông tin mà Einsiedel từng tiết lộ với Ulrike, vị Tổng giám mục của Tổng giáo phận Bamberg mang cái tên Sara Hohenfels. Chắc chắn hai người bọn họ chính là cùng một người. Tôi khẽ giải phóng một chút thần lực yếu ớt vào không trung rồi nhìn thẳng vào mắt Ralph Huber:
"Chắc hẳn phải có một câu chuyện cốt lõi nào đó về cô Sara Hohenfels chứ nhỉ. Mỗi khi nhớ đến người bạn đó, điều đầu tiên hiện lên trong tâm trí ngài là gì vậy…."
Linh mục Ralph Huber đờ người ra, chớp mắt hai cái với gương mặt không cảm xúc. Sau đó, ông ta khẽ nở một nụ cười dịu dàng:
"Hồi nhỏ, cô ấy từng cầu hôn tôi đấy. Thú vị đúng không?"
Emanuel bàng hoàng quay sang nhìn tôi. Bởi thông thường chẳng một ai lại đi chia sẻ câu chuyện đời tư cá nhân với một người vừa mới gặp mặt lần đầu như thế này cả, nên Emanuel đã lập tức nhận ra tôi đang vận dụng thần lực. Ralph Huber chìm đắm trong dòng hồi tưởng, ông ta thành thực đáp ứng lời thỉnh cầu của tôi:
"Sara lúc nào cũng là một người bạn ngập tràn niềm vui và phúc lành. Cô ấy bảo chỉ cần chúng ta một lòng trung thành với đức tin thì có thể sống một đời bình an trong vòng tay của Thần linh. Giống hệt như bài thuyết giảng lúc nãy của mục sư vậy."
"Thế ạ?"
Tôi đưa tay vuốt cằm, dán chặt hai mắt vào đôi đồng tử của Ralph Huber:
"Tôi lại muốn được lắng nghe thêm về câu chuyện cầu hôn kia cơ. Việc một vị Linh mục từng nhận được lời cầu hôn quả thực là một trải nghiệm vô cùng độc đáo mà…."
"Đúng như những gì tôi vừa nói đấy. Đó là vào cái ngày trước khi tôi chính thức bước sang tuổi trưởng thành, cô ấy đã ngâm thơ tặng tôi dưới một giàn hoa hồng leo. Hôm đó, nhờ đặc cách dành cho bình dân đến tham quan nên chúng tôi đã được bước chân vào cung điện mới phía sau này… tức là cung điện Neue Residenz, và hai đứa đã cùng nhau ghé qua vườn Rosengarten. Nghe danh hoa hồng nơi đó đang kỳ nở rộ nên cả hai chúng tôi đều khấp khởi mong chờ."
"Mục sư Wirth."
Emanuel trợn ngược mắt, vội vàng túm lấy cánh tay tôi. Tôi liền gạt tay ông ấy ra rồi đặt trở lại vị trí cũ. Linh mục Ralph Huber thấy Emanuel đột ngột ngắt lời mình để giữ tay tôi thì thoáng chút bối rối, nhưng rồi ông ta lại tiếp tục chìm đắm vào ký ức dĩ vãng:
"Vì tôi luôn dốc hết sức mình để trở thành một tu sĩ nên đành phải từ chối lời chân tình ấy, nhưng cũng chính vì đã cùng nhau trải qua biết bao thăng trầm biến cố trên đời nên giờ đây hai đứa đã trở thành đôi tri kỷ không thể tách rời. Đúng vậy. Cô ấy là một người vô cùng giàu có, nên biết đâu cô ấy sẽ sẵn sàng chi ra một khoản tiền lớn chỉ để được lắng nghe bài thuyết giảng của mục sư đấy."
Tôi đã thấu tỏ những gì Sara Hohenfels đã làm. Tôi đã thấu tỏ cách cô ta nhào nặn nên cuộc đời của người bạn mình. Giờ đây, tôi đã biết được lý do chính xác tại sao Linh mục Ralph Huber của năm 1898 lại có thể leo lên được vị trí Giám mục phó dẫu không sở hữu bất kỳ năng lực đặc thù nào. Chẳng phải là vì ông ta đã cống hiến cho giáo phận suốt một thời gian dài sao…. Một cảm giác quen thuộc đến kỳ lạ bỗng chốc ùa về, bủa vây lấy toàn bộ cơ thể tôi. Tôi chẳng thể thốt nên lời.
Lồng ngực nghẹn ứ, đầu óc bắt đầu đau nhức dữ dội. Hóa ra trước khi bị tước đoạt mất quyền kiểm soát cuộc đời, Ralph Huber vì nghe thấy những lời luận lý thần học quen thuộc hệt như những điều người bạn thân của mình vẫn thường hay rêu rao từ một vị mục sư người Mỹ, nên mới vui mừng khôn xiết mà gọi tôi lại. Tôi nuốt nước bọt, cố đè nén cái cảm giác ngột ngạt như muốn nôn mửa đang dâng lên tận cổ họng. Thực quản tựa như đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa âm ỉ.
Thấy tôi đưa tay lên che miệng, Ralph Huber liền cất tiếng hỏi với vẻ đầy lo lắng:
"Mục sư. Ngài không sao chứ?"
"Đương nhiên là tôi không sao rồi."
Không, tôi không hề ổn một chút nào cả. Tôi không ổn. Ông ta cũng không ổn. Tất cả mọi người đều không ổn. Tôi xua xua tay, nhắm chặt mắt lại rồi mở ra. Tôi nở một nụ cười gượng gạo rồi nói:
"Tôi rất muốn được diện kiến người đó, không biết khi nào thì chúng ta có thể gặp mặt được ạ?"

Giữ khẩu khí thanh khiết — không văn tục, không phá chính trị.
Nhập môn