Chương 550: 551
Cách sống sót với tư cách con trai thứ của gia đình phép thuật · Miumiuma · 557 chương · ~64 phút đọc · Tạo 09/08/2026
Tập 1 Không gian chìm vào tĩnh lặng. Tôi nhìn những tờ giấy màu vàng đặt trước mặt từng người trong phòng họp lung linh ánh nến, khẽ trầm ngâm một lát rồi bổ sung:
"Nếu tham vọng hơn nữa, tôi nghĩ chúng ta nên tẩy chay cả trái cây và các sản phẩm từ sữa."
Việc chính phủ tập trung vào Pleroma là điều hiển nhiên. Tổ chức đó chắc chắn đã có những kế hoạch tiếp theo. Cho đến khi Nikolaus Ernst và Bayern chặt đứt một nửa vây cánh của chúng.
Ngay cả khi bị quản thúc, tôi cũng từng tự hỏi tại sao Pleroma lại im hơi lặng tiếng đến vậy, nhưng đến hiện tại thì mọi chuyện đã sáng tỏ. Xét thấy không có bất kỳ động thái phản kháng nào trong hơn ba ngày qua kể từ đêm Phục sinh, Pleroma có vẻ không có ý định lộ diện ngay lập tức. Có thể suy đoán rằng sở dĩ chúng chậm trễ là vì đang dốc toàn lực để khắc phục hậu quả và sửa đổi kế hoạch. Dù không thể mổ xẻ tâm can chúng để tìm câu trả lời chính xác, nhưng giả thuyết "đang phục hồi" vẫn là hợp lý nhất.
Gác lại chuyện chính phủ đáng lẽ phải tái khởi động Ủy ban Cố vấn vốn chỉ còn cái vỏ bọc hữu danh vô thực, hoặc lập nên một nhóm nhân tài gồm toàn những nhân sĩ thân Hoàng thất, hay thành lập đội đặc nhiệm chống Pleroma để chuẩn bị cho đòn tấn công tiếp theo, ít nhất ở thời điểm này, chúng ta đã có một khoảng lặng để thở phào trước mối nguy Pleroma.
Thế nhưng, vẫn còn một kẻ châm ngòi khác đang lẩn khuất. Đó chính là Pháp.
Không kém gì Pleroma chực chờ ngày nuốt chửng lấy quyền lực, nước Pháp cũng đang dán chặt mắt vào đại lục chờ đợi ngày lật đổ nước Đức. Bộ Ma pháp vì quá mải mê với các cuộn bản thảo Biển Chết nên đã bỏ sót kẻ thù ngoại bang. Bộ Ngoại giao dù kết giao thành công với Anh nhưng lại sớm tự mãn với cảm giác "đang đối phó tốt", để rồi bỏ qua mối hiểm họa thực sự. Việc chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng vốn là lẽ tự nhiên đối với một kẻ đứng trong rừng, nhưng với một chính trị gia, đó là điều tối kỵ.
Một chính trị gia thực thụ phải biết hoán đổi tầm góc nhìn giữa rừng và cây đúng lúc, và chỉ những người như thế mới đủ tư cách chèo lái chính sự.
Bản thân tôi không dám vỗ ngực tự nhận lúc nào cũng thành công nhìn bao quát cả khu rừng, nhưng ít nhất, tôi có thể lôi cái chủ đề mà đám người này vì lý do nào đó không dám đưa ra ánh sáng—để thức tỉnh bọn họ.
Tôi hướng mắt về phía Abraham, người đang dán chặt đôi đồng tử lóe lên ánh vàng hổ phách trong ánh nến vào tôi và các quan chức đang nín thở dõi theo, dứt khoát nói:
"Các ngài bảo rằng Pháp đang né tránh giao thiệp. Nếu đã vậy, thay vì ngồi chờ họ hành động, chúng ta phải ép họ phải ra bài. Đây là thời điểm cần một cú chọc gậy bánh xe chuẩn xác. Tuy nhiên, những gì chính phủ có thể ra mặt làm lại có giới hạn."
Mối quan hệ giữa Pháp và Đức tuy từng rạn nứt sâu sắc sau chiến tranh Pháp-Phổ, nhưng kể từ đó đến nay, đôi bên vẫn đang cố duy trì một kỷ nguyên hòa bình. Quy chế tối huệ quốc giữa các cường quốc châu Âu hiện tại chính là minh chứng.
Vì vậy—. Khi tôi định tiếp lời, kẻ ngồi ngay trước mặt Abraham bỗng lên tiếng cắt ngang:
"Ngài Askanier đúng là Ngài Askanier. Tôi cứ ngỡ ngài đã quên mất hiệp ước tối huệ quốc rồi, làm tôi giật cả mình."
'Giật cả mình'... Quả là một cách dùng từ hoa mỹ. Tôi liếc qua bảng trạng thái để kiểm tra danh tính gã, rồi đối chiếu với sơ đồ tổ chức bộ máy chính phủ trong ký ức. Gã không thuộc biên chế chính phủ mà là người của Hoàng thất—Chủ tịch Hội đồng mật vụ phụ trách ngoại giao, đến từ gia tộc Alvensleben, dòng họ thế gia tài phiệt đời đời sản sinh ra các chính trị gia cho nước Phổ. Hội đồng mật vụ vốn là cơ quan cố vấn của Hoàng đế, nên Ủy ban Cố vấn của Nikolaus Ernst cũng trực thuộc nơi này.
Tính ra, gã có cùng cấp bậc với Nikolaus Ernst.
Vì chính phủ bị giới hạn hành động, nên phải để một thế lực phi chính phủ ra tay. Đó chính là điều tôi định nói. Việc thừa nhận giới hạn của chính phủ đồng nghĩa với việc ngầm hiểu Đức và Pháp đang bị trói buộc bởi quy chế tối huệ quốc. Đối phương cũng thừa hiểu ý đồ của tôi. Chủ tịch Hội đồng mật vụ Alvensleben một tay cầm bút, tay kia khẽ xòe ra, thong thả nói:
"Dẫu có đùn đẩy gánh nặng sang cho khu vực dân sự, chúng ta vẫn phải khắc cốt ghi tâm rằng Đức và Pháp đang ràng buộc bởi quy chế tối huệ quốc. Nếu tờ Báo chí Đế quốc và các loại báo lá cải đồng loạt đăng tin tẩy chay, phía Pháp sẽ lập tức đánh hơi thấy chính phủ đứng sau giật dây."
"Vâng, chắc chắn trong thâm tâm họ sẽ nhận ra."
"Thần dân của chúng ta đương nhiên cần phải cảnh giác trước đòn khơi mào đầy tham lam của nước Pháp. Việc khơi dậy lòng căm ghét nước Pháp cũng có thể xem là một chất xúc tác kích hoạt tinh thần ái quốc của giới trẻ. Thế nhưng, Ngài Askanier, ngài phải hiểu rằng một khi bị dồn vào đường cùng, Pháp hoàn toàn có thể dùng việc hủy bỏ quy chế tối huệ quốc để đe dọa chúng ta.
Vấn đề bồi thường là một quân bài cực kỳ nhạy cảm, đây là lúc nước Đức phải thận trọng trong từng bước đi và xử lý các mối quan hệ một cách tinh tế nhất. Nếu vô số quốc gia khác bị cuốn vào vòng xoáy áp lực của Pháp mà tuyệt giao tối huệ quốc với chúng ta, đó sẽ là một thảm họa ngoại giao. Là sự cậu lập hoàn toàn. Chúng ta sẽ đánh mất cơ hội xuất khẩu các loại công nghệ và máy móc tiên tiến của Đức với mức giá hợp lý.
Đó không chỉ là tổn thất về thương mại, mà suy cho cùng, nó chính là minh chứng cho thấy quốc gia đã đánh mất tôn nghiêm và thực lực."
Chủ tịch Hội đồng mật vụ Alvensleben nói với gương mặt đầy thuyết phục. Sắc mặt tôi vẫn không một chút gợn sóng. Thấy tôi chỉ im lặng lắng nghe, gã mới xoáy sâu vào cốt lõi vấn đề:
"Và trên hết, tại sao chúng ta lại phải chọc giận Pháp chứ?"
Gã chờ đợi câu trả lời từ tôi, nhưng thấy cả khán phòng vẫn chìm trong im lặng, gã lại tiếp tục:
"Pháp hiện tại đang tự mình chọn im lặng. Ngài không nghĩ rằng sự thiếu nhạy bén của họ đang câu giờ cho chúng ta sao? Giống như việc Bộ Ma pháp và giới học thuật đang ngày đêm giải mã bản sao Ein Feschka cho chiến dịch chống Pleroma, trong lúc Pháp im hơi lặng tiếng vì chưa chọn được thời cơ, đáng lẽ chúng ta phải hoàn thiện xong chiến lược đối phó, tích lũy đủ sức mạnh để đối trọng với những yêu sách của họ."
Đến đây thì tôi đã thấu rõ tâm cơ của gã. Alvensleben chỉ coi tôi như một gã thanh niên sốc nổi, nhiệt huyết quá đà nhảy vào phá bĩnh cuộc họp, suy nghĩ này của gã cũng không phải là không có cơ sở. Tuy nhiên, phản ứng của tôi sẽ tùy thuộc vào những gì gã nói —nếu gã đưa ra được những luận điểm thấu tình đạt lý, tôi có thể tạm bỏ qua việc gã coi tôi như kẻ quấy rối nhưng nếu lời lẽ của gã hoàn toàn thiếu đi tính logic, tôi tuyệt đối không có lý do gì để đồng tình. Nghĩ một lúc, tôi đã có câu trả lời.
Tôi khẽ cúi đầu lịch sự rồi đáp:
"Trước hết, nếu lợi ích mà các nước châu Âu thu được từ việc giao thương với Pháp lớn hơn lợi ích khi hợp tác với Đức, thì việc đăng bài tẩy chay trên báo chí chắc chắn sẽ là một nước đi thảm họa."
Đúng như vậy, nếu các quốc gia khác gặt hái được nguồn lợi khổng lồ từ Pháp vượt trội so với Đức, thì khi đứng trước một tối hậu thư, họ sẽ không ngần ngại chọn đứng về phía Pháp. Để tránh rơi vào thế bí như vậy, việc kích động sự phẫn nộ của Pháp bằng những bài báo tẩy chay quả thực là điều nên tránh.
Tôi lập tức tiếp lời:
"Thế nhưng, tôi không nghĩ cái gọi là lợi ích từ Pháp kia lại có thể vượt qua được những gì họ nhận được từ nước Đức. Đặc biệt là trong kỷ nguyên mà toàn đại lục đang điên cuồng đẩy mạnh công nghiệp hóa như hiện nay."
Có ba phương thức chính để trả đũa nước Pháp.
Một, phản công bằng quân sự. Phương án này không thể tùy tiện lựa chọn, loại bỏ.
Hai, trừng phạt kinh tế.
Ba, trả đũa bằng văn hóa. Phương án thứ ba thiên về sự phản kháng do người dân tự phát, so với hai cách trước thì hiệu quả lan tỏa khá chậm chạp và sức tàn phá tương đối yếu ớt dưới nhãn quan thiển cận của những chính trị gia lão luyện. Mục tiêu của chúng ta là phải làm lung lay những gã chính trị gia cáo già đang ngồi vững như bàn thạch ở Pháp nên phải loại bỏ.
Vậy thì còn lại gì? Chỉ có thể là trừng phạt kinh tế.
Nhưng trừng phạt bằng cách nào? Công cụ kinh tế được ưa chuộng nhất thời bấy giờ là điều chỉnh thuế quan, song điều này lại vấp phải một trở ngại lớn. Các quốc gia châu Âu như Anh, Đức, Pháp, Áo-Hung và Ý đều được kết nối chặt chẽ bởi mạng lưới tối huệ quốc. Dẫu điều khoản tối huệ quốc ở thời kỳ này có đôi chút khác biệt tùy theo từng quốc gia và không phải lúc nào cũng bảo hộ mức thuế ưu đãi nhất, nhưng riêng trường hợp của Pháp thì lại được đảm bảo tuyệt đối.
Ví dụ, nếu chúng ta tăng vọt thuế quan đối với rượu vang Pháp đến mức khiến các trang điền nước Pháp tổn thương nặng nề, thì theo luật, chúng ta cũng buộc phải nâng mức thuế đối với rượu vang Anh lên tỷ lệ tương đương. Bằng không, việc chỉ đơn phương tăng thuế của Pháp sẽ là hành vi xé bỏ hiệp ước tối huệ quốc.
Dù phần lớn rượu vang nhập khẩu vào Đức có xuất xứ từ Pháp và tổn thất của Anh khi thuế rượu tăng là không đáng kể, nhưng sự thật là cuộc xung đột Đức-Pháp sẽ kéo theo những hệ lụy không đáng có cho một quốc gia vô can. Một khi cuộc chiến thuế quan này leo thang, nền kinh tế toàn châu Âu sẽ rơi vào vòng xoáy bất ổn.
Chẳng có quốc gia nào hoan nghênh một hành vi khiêu khích làm đảo lộn sự bình yên của dân chúng nước mình.
"Chính phủ" Đức nếu sập bẫy khiêu khích của Pháp sẽ vô tình biến mình thành kẻ tội đồ làm xáo trộn nền kinh tế đại lục.
Vậy nếu quyết định từ bỏ quy chế tối huệ quốc để nhắm vào mỗi rượu vang Pháp thì sao? Điều đó đồng nghĩa với việc tuyên chiến công khai với sự khiêu khích của Pháp. Cuộc chiến ủy nhiệm thông qua truyền thông sẽ lột bỏ lớp mặt nạ che đậy, xung đột sẽ trở nên trực diện và khốc liệt hơn bao giờ hết.
May mắn thay, nước Đức khá tương đồng với tiến trình lịch sử mà tôi từng biết, dù từng là một quốc gia thuần nông trong thời gian dài so với Anh và Pháp, nhưng gần đây đã trỗi dậy một cách thần tốc đầy bùng nổ, vươn lên dẫn đầu trong nhiều ngành công nghiệp cốt lõi.
Trước những ánh mắt đầy nghi hoặc như muốn chất vấn xem tôi lấy căn cứ đâu để khẳng định lợi ích từ Pháp nhỏ hơn từ Đức, tôi dứt khoát đáp:
"Đức sở hữu ngành công nghiệp điện lực và hóa chất tiên tiến hơn hẳn so với Anh và Pháp, đồng thời nhờ vào lãnh thổ rộng lớn, chúng ta hoàn toàn có thể tự cung tự cấp phần lớn tài nguyên và nông sản. Nguồn than đá của Đức là mạch máu của ngành luyện kim nước Pháp, và các thiết bị cơ khí chính xác của Đức là chìa khóa để vận hành toàn bộ nền công nghiệp của họ. Ngay cả ngành dệt may Pháp cũng phụ thuộc nặng nề vào ngành hóa chất của Đức.
Không chỉ Pháp mà toàn bộ các quốc gia châu Âu khác cũng rơi vào tình thế tương tự, điều này chắc chắn Ngài Chủ tịch đây rõ hơn ai hết. Do đó, việc so sánh lợi ích giữa các nước châu Âu hoàn toàn không đáng ngại. Thay vào đó, tử huyệt mà chúng ta cần nhắm vào chính là lợi ích của chính nước Pháp. Sẽ ra sao nếu Pháp hoàn toàn rút khỏi thị trường Đức?"
Chủ tịch Hội đồng mật vụ Alvensleben dĩ nhiên đã chuẩn bị sẵn lời phản bác. Gã lờ đi câu hỏi mở của tôi để lái câu chuyện sang hướng khác:
"Ngài có vẻ chưa tính đến khả năng Pháp đang mưu tính một canh bạc lớn hơn rồi, Ngài Askanier. Pháp đang ngầm đánh tiếng với các nước châu Âu rằng họ sẽ chia chác miếng bánh béo bở thu được từ việc lật đổ Đế quốc Đức. Toàn bộ chuỗi hành vi ngạo mạn của họ từ trước đến nay đều dựa trên tín hiệu đó. Họ cho rằng vì chúng ta đang đứng trên đỉnh cao, nên nếu lật đổ được một nước Đức phú cường thế này, phần lợi lộc chia nhau chắc chắn sẽ vô cùng hậu hĩnh."
"Thưa Ngài Chủ tịch, về vấn đề đó, tôi xin phép được trình bày rõ hơn ở phần sau."
Tôi khẽ gật đầu, giữ vững nét mặt và tông giọng lịch thiệp để đáp lời.
"Xin phép được tiếp tục, dẫu tổn thất sẽ xuất hiện ở nhiều lĩnh vực, nhưng cái giá nước Đức phải trả tuyệt đối không thể sánh bằng đòn chí mạng mà Pháp phải gánh chịu. Hoạt động xuất khẩu của Pháp sang Đức chủ yếu dựa vào nông sản và xa xỉ phẩm—như rượu vang, các sản phẩm từ sữa, nước hoa, vải vóc, trang phục và đồ thủ công mỹ nghệ. Trong khi Pháp phải nhập khẩu từ Đức những mặt hàng cốt lõi khó lòng thay thế, thì nước Đức lại chỉ nhập từ Pháp những mặt hàng mang tính tận hưởng, sở thích cá nhân.
Các loại nông sản thiết yếu như lúa mì chúng ta hoàn toàn có thể tự cung cấp, hoặc nhập khẩu từ Mỹ và Nga, nên Pháp chẳng có tư cách gì để đe dọa cắt đứt nguồn sống của nước Đức cả. Thời gian qua, Pháp đã cố gắng mở rộng giao thương với Anh và Bỉ nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào Đức, nhưng bấy nhiêu vẫn là muối bỏ bể."
Tôi khẽ liếc nhìn Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đang khẽ gật đầu đồng tình rồi tiếp tục:
"Dù người dân không còn được thưởng thức rượu vang và sữa thượng hạng với giá rẻ, chúng ta hoàn toàn có thể tăng cường nhập khẩu rượu từ Ý và Bồ Đào Nha để thay thế, hoặc nhân cơ hội này để kích cầu nền kinh tế nội địa. Giá vải vóc cao cấp và nước hoa có thể tăng vọt gây ra đôi chút cằn nhằn, nhưng bấy nhiêu vẫn tốt hơn nhiều so với một nước Pháp đang phải đối mặt với sự trì trệ rõ rệt của hàng loạt ngành công nghiệp và phải gánh chịu chi phí vận hành khổng lồ. Nói cách khác..."
Tôi đưa mắt nhìn quanh một lượt, dán chặt cái nhìn vào những chính trị gia ái quốc đã dâng hiến cả lòng tự tôn cho 'Đế quốc Đức':
"Đức hoàn toàn ngự trị ở vị thế có thể bóp nghẹt Pháp về mặt thương mại. Tuy nhiên, nếu khơi mào một cuộc 'chiến tranh' thương mại toàn diện, các doanh nghiệp bị nghẽn đường xuất khẩu của chúng ta cũng sẽ tổn thương, và việc đối đầu dài hạn với Pháp chắc chắn sẽ tạo nên gánh nặng quá tải cho nền kinh tế Đức. Và quan trọng hơn cả, một cuộc chiến do chính phủ phát động rất dễ dẫn đến việc hủy bỏ hiệp ước tối huệ quốc."
Bởi vậy, Đế quốc lúc này sẽ can thiệp một cách gián tiếp thông qua bàn tay vô hình. Chúng ta sẽ không lập tức gạch tên ngành hóa chất và cơ khí ra khỏi danh mục giao thương với Pháp, bởi điều đó sẽ khiến các doanh nghiệp nội địa và nền kinh tế của chúng ta bị đóng băng.
Thế nhưng, một lời cảnh cáo là điều bắt buộc.
Phương thức hành động đã quá rõ ràng. Để vừa kích hoạt nền kinh tế nước nhà, vừa ép một nước Pháp đang khoanh tay đứng nhìn phải hành động— cưỡng ép thay thế xa xỉ phẩm của Pháp bằng các sản phẩm nội địa. Hãy tiến hành theo từng giai đoạn. Việc này vừa bào mòn dần nền kinh tế Pháp, khiến họ tiên liệu được một trận thủy triều rút khổng lồ sắp tới, vừa thúc đẩy nội nhu trong ngắn hạn. Rượu vang Pháp dẫu ngon, nhưng người Đức cũng tiêu thụ một lượng lớn rượu vang nội địa.
Những điền trang, nhà máy sản xuất sữa đâu phải là không có. Các xưởng chế tác nước hoa và bút máy cũng nhiều vô kể. Thậm chí các loại trái cây đắt đỏ cũng hoàn toàn có thể thay thế bằng nông sản của nước Đức.
"Chính vì vậy, chúng ta phải thúc đẩy phong trào từ phía người dân."
Tôi nhìn vào mắt những lão già đang dần bị thuyết phục kia, hạ giọng nói bằng một tông điệu tràn đầy sự quả quyết. Với chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc gia đang dâng cao ở Đức thời bấy giờ, việc này hoàn toàn khả thi. Chắc hẳn dân chúng đã bắt đầu bài xích những món đồ gắn mác nước Pháp rồi. Việc lôi kéo cả những người còn lại tham gia chính là sự đáp trả mà nước Đức cần lúc này. Về mặt nhân tính, tôi thực lòng chẳng muốn hiến kế cho họ theo cách này.
Tâm trí tôi đang hướng về những người nông dân trong các đồn điền ở Pháp, những người đang sống dựa vào việc xuất khẩu nông sản sang Đức, họ không phải là một khối dân chúng thù địch vô hình, mà là từng cá nhân, từng mái ấm gia đình cụ thể. Mỗi khi vô tình nghĩ đến điều đó, cổ họng tôi lại nghẹn đắng như bị bóp nghẹt.
Thế nhưng, tôi biết mình đã sai. Một chính trị gia sở hữu kiểu lòng trắc ẩn ấy, nếu may mắn thì thành vĩ nhân, bằng không sẽ biến thành kẻ nhu nhược đẩy đất nước vào cảnh lầm than. Kẻ sau tuyệt đối không có tư cách làm chính trị. Tôi phải giữ vững sự cân bằng. Nếu Đức sụp đổ vào lúc này, thứ còn lại duy nhất sẽ là một Bayern biến thành con rối của Tòa thánh, một nước Pháp—Terminus Eucairia—hân hoan vì đã quét sạch được kình địch, cùng với Anh, Nga và Áo-Hung.
Việc tự sát tập thể chỉ mang lại sự hỗn loạn cho toàn đại lục và tạo điều kiện cho các tổ chức khủng bạo ma pháp trỗi dậy mà thôi. Nước Phổ dẫu có vẻ đang đi những nước cờ sai lầm, nhưng không ai có thể xem nhẹ quy mô dân số và lãnh thổ của họ, càng không thể phủ nhận thực lực của một quốc gia đã vươn lên thành cường quốc đại lục từ mảnh đất cát cằn cỗi. Các chính trị gia thời đại này trông có vẻ bất tài, nhưng thực chất đó là do nhìn quá gần, ở đâu cũng vậy cả thôi.
Dẫu biết chính trị gia phải biết nhìn toàn cục, nhưng thực tế cả ở Đức lẫn ngoại quốc, chẳng mấy ai làm được điều đó. Cuộc đối đầu giữa Bayern và Phổ dẫu có quan trọng đến đâu, thì tiền đề cốt lõi vẫn là nước Phổ phải tồn tại cái đã. Phổ phải giành chiến thắng một lần nữa trước Pháp, vậy nên tôi cần lợi dụng cục diện này—nơi chỉ cần một vài lời khuyên nhỏ là có thể nhìn thấy thắng lợi.
Ngược lại, nếu muốn chứng kiến một đại lục châu Âu bị thống trị bởi Terminus Eucairia, tôi chỉ cần ngậm miệng lại và không đưa ra bất kỳ lời khuyên nào là xong.
Tôi quay đầu sang phía đối diện, hỏi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao:
"Thưa Bộ trưởng, tôi muốn biết thời gian qua Bộ Ngoại giao đã có những động thái phản hồi nào đối với Pháp?"
Bộ Ngoại giao chắc chắn đã không thể đứng ra vạch trần sai trái của Pháp một cách quyết liệt. Bởi lẽ, tất cả những gì Hoàng thất Pháp làm chỉ là công bố sự hiện diện của Atropos và đưa ra lời cảnh báo cho Đức, phần còn lại đều do đám học giả kinh tế, chuyên gia chính sách hay các tể tướng châm dầu vào lửa thông qua tờ Báo chí Đế quốc Pháp. Pháp rõ ràng đang chực chờ Đức rơi vào thế bí rồi mới tung ra tin tức vào thời điểm này, nên phản ứng của Bộ Ngoại giao như vậy cũng là điều dễ hiểu. Vị Bộ trưởng hạ giọng đáp:
"Chúng ta đã thông báo cho họ biết chính phủ đang dốc toàn lực đối phó với Atropos, đồng thời đã triệu tập Đại sứ Pháp. Nội bộ Bộ Ngoại giao cũng đã âm thầm thu thập các động thái của Pháp. Cậu có cần những thông tin đó không?"
"Không cần đâu ạ, như vậy lại làm phiền ngài quá. Thưa Ngài Chủ tịch Hội đồng mật vụ, tôi có thể mạo muội tiếp tục giải đáp những lo ngại của ngài được chứ?"
"Ta đưa cậu đến đây là để nói, việc gì phải dùng đến hai chữ mạo muội."
Abraham hiếm hoi lắm mới thốt ra được một câu có ích. Cứ ngỡ gã chỉ biết trừng trừng đôi mắt sắc lẹm đi gây sự với các bộ trưởng, hóa ra khi vào việc gã vẫn biết hoàn thành bổn phận của mình. Nhờ biết thực hiện những nghĩa vụ tối thiểu của một vị Hoàng thái tử nên gã mới giữ được vị trí này mà không bị giáng xuống làm Hoàng tử thông thường.
Dẫu sao, tôi cũng đã bày tỏ sự kính trọng đúng mực đối với những vị đại thần đầy quyền lực trong Hội đồng mật vụ, những kẻ luôn nhận được sự sủng ái của Hoàng đế, và dẫu đối phương có khước từ, tôi vẫn sẽ tìm mọi cách để nói ra những điều cần nói.
"Ngài Chủ tịch lo ngại rằng nước Đức sẽ bị các quốc gia châu Âu cậu lập. Phải chăng ngài nghĩ vậy vì một quốc gia như Thụy Sĩ đang nghiêng về phía Pháp? Tuy nhiên, ngay cả Thụy Sĩ thì mức độ phụ thuộc thương mại của họ vào Đức vẫn cao hơn nhiều so với Pháp, nên cục diện đó sẽ không kéo dài lâu. Mối bận tâm thực sự phải là Bỉ, tiếp theo là Anh và Ý."
Đây là những quốc gia có mối quan hệ giao thương với Pháp sâu sắc hơn, hoặc ít nhất là ngang bằng với Đức.
"Với Anh, nhờ thỏa thuận chia sẻ tuyến đường hàng hải và chuyển giao công nghệ hóa chất, chúng ta tạm thời có thể yên tâm; nhưng Bỉ thì không như vậy. Nước Ý cũng khó lòng từ bỏ Pháp do các hoạt động thương mại xa xỉ phẩm. Dẫu thế, nước Ý cũng chẳng có đủ động cơ để quay lưng với mối quan hệ hữu hảo với Đức.
Trên thực tế, khi phần lớn các nước châu Âu đều đang phụ thuộc nặng nề vào thương mại với Đức, thì dẫu hai quốc gia này có liên minh với Pháp để hủy bỏ quy chế tối huệ quốc đi chăng nữa, tổn thất của chúng ta cũng không quá lớn. Đặc biệt, chúng ta không hề phụ thuộc vào bất kỳ mặt hàng hay dịch vụ độc quyền nào từ Bỉ và Ý cả. Rắc rối duy nhất là Ý, không giống như Bỉ, là một cường quốc; chính vì thế chúng ta cần phải triệt tiêu khả năng họ bắt tay với Pháp chỉ vì một vài xích mích nhỏ. Nếu đã vậy..."
Tôi đưa mắt lướt qua toàn bộ phòng họp, khẽ nghiêng đầu nói:
"Chúng ta chỉ cần thuyết phục các doanh nghiệp nội địa tạm thời hạ giá máy móc xuất khẩu sang Ý, hoặc đẩy mạnh nhập khẩu rượu vang Ý để thay thế hoàn toàn cho rượu vang Pháp là được."
Việc hạ giá máy móc xuất khẩu sang Ý hoàn toàn không vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc. Hiệp ước tối huệ quốc là thỏa thuận mang tính cấp quốc gia, còn việc định giá của từng doanh nghiệp riêng lẻ thì không chịu sự ràng buộc của các điều khoản đó.
Chủ tịch Hội đồng mật vụ bỗng im lặng một cách lạ thường. Thấy gã chỉ mấp máy môi, tôi lập tức cướp lời trước khi gã kịp tung ra đòn phản pháo phiền phức.
"Tiếp theo, tôi xin phép được trình bày quan điểm cá nhân về lý do tại sao chúng ta tuyệt đối không thể vui mừng trước sự im lặng hiện tại của Pháp. Nếu phải đưa ra một giả thuyết cho sự bất động của họ, thì đó là vì họ đang dùng thời gian như một mồi lửa châm vào lòng tham của các quốc gia châu Âu."
"Hửm."
Bộ trưởng Bộ Tài chính lần đầu tiên lên tiếng phản hồi. Hiểu được lý do đằng sau cái hắng giọng đó, tôi khẽ gật đầu tiếp lời:
"Bởi lẽ đây chính là thời điểm mà các quốc gia nhìn thấy cơ hội vòi vĩnh tiền bạc từ nước Đức. Dẫu Bayern đã giáng một đòn sấm sét vào Pleroma, nhưng tương tự như trường hợp của Thụy Sĩ, sự hiện diện của tàn dư Pleroma và Atropos vẫn là cái cớ để các nước yêu cầu khoản 'phí chia sẻ'. Nói cách khác, dù Bayern đã dập tắt được một nửa ngọn lửa do Pháp và Pleroma châm ngòi, thì nước Pháp vẫn đang kiên nhẫn chờ đợi thời gian thổi bùng ngọn lửa âm ỉ đó trở lại trạng thái ban đầu.
Đó chính là cốt lõi của sự im lặng đầy tính toán từ họ."
Sở dĩ Pháp khoanh tay đứng nhìn mà không đưa ra một tối hậu thư trực tiếp cho Đức là vì họ không muốn đặt dấu chấm hết cho lòng tham của các nước, họ cố tình không cung cấp bất kỳ thông tin mới nào có thể khiến các nước phải thay đổi kế hoạch. Tôi tiếp tục:
"Pháp có nghĩa vụ phải bày tỏ lập trường tiếp theo đối với những rắc rối mà chính họ đã rêu rao trước toàn bộ các quốc gia láng giềng. Khoảnh khắc Pháp đưa ra câu trả lời cho yêu cầu của Đức cũng là lúc họ buộc phải lật bài ngửa. Những quốc gia như Thụy Sĩ sẽ nhìn vào nước đi đó của Pháp để thay đổi quyết định của chính mình. Những kẻ chực chờ cơ hội như vậy có ở khắp nơi. Vấn đề là nếu Pháp không thực sự muốn khơi mào một cuộc tổng chiến lực, sớm muộn gì họ cũng phải thu hồi những móng vuốt đã giương lên.
Đó sẽ là một tín hiệu—tín hiệu khiến các nước xung quanh không thể tiếp tục gây hấn được nữa."
Đến lúc này, các bộ trưởng mới bắt đầu khẽ gật gù tán thành.
"Chính vì thế, Pháp sẽ chọn cách tiếp tục ngậm miệng. Họ sẽ kéo dài thời gian hết mức có thể, cho đến khi không thể trì hoãn được nữa mới tung ra một câu trả lời hoàn toàn bất lợi cho Đức. Và rồi, ngay vào khoảnh khắc cục diện đôi bên chuẩn bị lao vào bờ vực hủy diệt thực sự, họ sẽ lập tức rút lui và phát đi tín hiệu hòa bình. Họ vốn không thể ngờ nước Đức lại có thể thổi bay Pleroma một cách ngoạn mục đến vậy, thế nên họ buộc phải đánh giá lại thực lực công nghệ của chúng ta.
Vì lẽ đó, chính họ cũng chẳng thể tự tin sẽ đối đầu với chúng ta đến cùng. Sở dĩ họ câu giờ là vì biết rõ nước Đức đang nắm giữ lợi thế tuyệt đối nếu cuộc chiến diễn ra chớp nhoáng."
"......."
"Vì vậy, việc chúng ta không cần phải ban phát thêm thời gian cho họ là điều vô cùng hiển nhiên."
Không một ai lên tiếng. Chủ tịch Hội đồng mật vụ Alvensleben mím chặt môi, dán chặt ánh mắt vô định vào khoảng không khiến bầu không khí trong phòng họp đóng băng lạnh ngắt. Abraham thì khẽ hạ mi mắt, tiếp tục nhấp từng ngụm rượu với vẻ mặt hờ hững như thể mọi chuyện đã nằm trong dự liệu.
"Khụ."
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao khẽ hắng giọng, lén lút quan sát sắc mặt của Hoàng thái tử và Chủ tịch Hội đồng mật vụ. Trong khi đó, vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lại chăm chú dò xét tôi một hồi lâu. Tôi đưa mắt nhìn lại với vẻ đầy nghi hoặc. Ngay khi ánh mắt chạm nhau, ông ta liền đánh mắt sang hướng khác, nhưng thần sắc không có vẻ gì là bài xích.
"Được rồi."
Abraham đặt ly rượu xuống, khẽ búng tay một cái.
"Một phong trào tẩy chay hàng hóa Pháp đầy bùng nổ, vì nước Đức, vì người Đức... một kỳ tích mang đậm bản sắc Đức. Hửm."
Abraham khẽ gõ ngón tay lên thái dương, lẩm bẩm như đang mường tượng ra cái tiêu đề giật gân cùng tâm lý đám đông bị cuốn vào vòng xoáy đó, rồi đan chặt hai tay vào nhau. Đôi đồng tử đang cụp xuống của gã bỗng dời hướng, ánh mắt rực lên sắc cam ma mị dưới ánh nến dại dột ghim thẳng vào tôi. Gã liếc nhìn những người ngồi hai bên, khẽ nghiêng đầu rồi nhếch mép cười một cách đầy máy móc:
"Để xem nước Pháp có chịu ló mặt ra không."
Ba ngày trôi qua kể từ buổi tối hôm đó.
5 giờ sáng, tôi thức dậy tại dinh thự Wittelsbach như thường lệ, sửa soạn nhanh chóng rồi bước xuống tầng một.
Tôi lật mở bức thư của người bạn vừa được gửi đến vào sáng sớm nay. Một người hầu cất lời chào ngắn gọn. Suốt thời gian qua, tôi đã kết thân được với một cậu hầu ngoài 20 tuổi, người duy nhất tôi cảm thấy có cùng thế hệ với mình, hai đứa thường ngồi đối diện nhau, vừa nhâm nhi hồng trà vừa tán gẫu đủ chuyện trên đời.
Leonard vì quá bận rộn nên hiếm khi đến Berlin, và dẫu có đến, cậu ta cũng tuyệt đối không đặt chân vào dinh thự tôi đang ở. Đó là sự phòng bị trước tai mắt giám sát của Hoàng thất. Thay vào đó, thỉnh thoảng cậu ta sẽ cùng Zähringen gặp tôi thông qua Mimesis ở tòa nhà bên cạnh. Mỗi khi tôi dò hỏi về tình hình của Elias, Leonard lại kín như bưng, chẳng hé môi nửa lời. Trong nguyên tác tiểu thuyết, mỗi khi cậu ta đứng ra bảo bọc cho Elias thì cục diện tương tự cũng diễn ra, đúng là một người bạn vô cùng tận tâm.
Hành động như vậy là hoàn toàn chính xác. Những gì tôi suy đoán được dựa trên nét mặt không mảy may lo lắng của cậu ta là có vẻ Elias vẫn đang bình an vô sự và chưa gây ra rắc rối mới nào—chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi.
Khi đưa ra các yêu sách tại Victoria Lyceum, tôi đã cố tình nói ẩn ý với Abraham về Elias. Nếu thực sự muốn nghĩ cho an nguy của cậu ấy, tuyệt đối không được mở lời yêu cầu đảm bảo an toàn một cách trực diện. Việc vạch rõ mong muốn của bản thân chẳng khác nào dâng hiến điểm yếu của mình cho đối phương. Abraham dẫu thừa biết tôi trân trọng bạn bè đến nhường nào, nhưng việc gã tự biết và việc tôi tự tay chỉ đích danh một người để gã chú ý lại là hai chuyện hoàn toàn khác biệt.
Tôi đã đại khái tính toán được ngày chúng tôi có thể tái ngộ, nên từ giờ cho đến lúc đó, tôi chỉ biết thầm cầu nguyện cho sự bình an của họ. Cả Leonard lẫn Elias chắc chắn đều không biết tôi đang vạch ra những kế hoạch này, nhưng việc họ không biết lại là điều tốt nhất.
So với hai người họ, Ulrike năng nổ ghé qua dinh thự này hơn, cậu ấy cũng thường xuyên lui tới dinh thự Zähringen liền kề với tần suất tương đương. Đây cũng là một nước đi nhằm phân tán sự chú ý của Hoàng thất.
Còn tôi...
Vẫn thong thả dùng bữa sáng và tán gẫu vài câu vô thưởng vô phạt với người hầu. Tôi nhanh chóng lấp đầy dạ dày bằng một miếng bánh ngọt màu vàng trứng không rõ tên cùng một tách hồng trà, rồi lật mở tờ báo buổi sáng. Ngay từ trang nhất, các tiêu đề về nước Pháp đã đập vào mắt: [Công ty Xây dựng Đường sắt Berlin Quyết định Trả lại Toàn bộ Quặng sắt của Pháp: "Quyết định Thuận theo Lòng dân"] [Doanh số Rượu vang Bordeaux và Burgundy Lao dốc 73% so với Tuần trước... Rượu vang 'Gắn mác Đức' Trỗi dậy Ngược dòng] [Cho không Cũng chẳng Thèm: Rượu Champagne Thối rữa trong Kho] Kééét— Ngay khi tôi định lướt mắt xuống phần nội dung chi tiết, tiếng bánh xe ngựa nghiến trên đường lọt vào từ phía xa. Ghé mắt qua khe hở của tấm rèm cửa dày rộng, tôi bắt gặp những bóng người khoác trên mình bộ đồng phục quen thuộc của chính phủ Phổ đang bước xuống xe. Tôi khép tờ báo lại rồi đứng dậy.
Tuyệt lắm.
Nước Pháp, kẻ vốn luôn giữ thái độ phớt lờ lạnh lùng suốt thời gian qua cuối cùng đã phải chuyển mình.
Dù màn đáp trả này có phần hơi sớm so với dự tính ban đầu của tôi, nhưng chung quy là đã thành công mỹ mãn. Chẳng khó để đoán định rằng mình sẽ phải lên cỗ xe đó để tiến thẳng về phía chính phủ, tôi liền chỉnh đốn lại trang phục rồi chủ động bước ra sảnh chính của dinh thự trước khi có người vào gọi. Ánh bình minh soi rọi xiên qua những ô cửa, dát một lớp vàng lấp lánh lên mặt sàn cẩm thạch. Trước hai cánh cửa đang mở toang, toán công chức đang đứng trao đổi với vị Quản gia của dinh thự.
Trông thấy tôi xuất hiện, gã công chức lập tức tiến đến cúi đầu chào kính cẩn:
"Thưa Ngài Askanier. Chúng tôi đến theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao."
Đứng trước mặt họ, tôi khẽ gật đầu thay cho câu trả lời. Gã công chức giơ bức thư có đóng dấu niêm phong của Bộ Ngoại giao lên ngang mặt, dứt khoát tuyên bố:
"Pháp đã chính thức phát đi thông báo muốn sang thăm Đức. Bộ trưởng triệu tập ngài để tổ chức cuộc họp khẩn cấp lập phương án đối phó."

Giữ khẩu khí thanh khiết — không văn tục, không phá chính trị.
Nhập môn