Chương 525: 526
Cách sống sót với tư cách con trai thứ của gia đình phép thuật · Miumiuma · 557 chương · ~65 phút đọc · Tạo 09/08/2026
Tập 1 Con ơi, sao con lại làm như thế? Kìa, cha và mẹ đã lo lắng tìm con.
Tôi đứng lặng yên tại nơi ấy. Ngước nhìn lên bầu trời, tôi cắm phập chiếc quyền trượng xuống ngay giữa lòng chiến trường đổ nát và để cho thần lực tuôn trào. Thời gian tựa như một tấm màng mỏng hóa thành ngọn gió, cuộn chảy thành một khối cầu bất định, nghiêng lệch xuống mặt đất rồi dừng lại. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ bỏ túi kéo dài ra rồi thình lình đứt đoạn, tựa như sự tịch mịch vô bờ vào khoảnh khắc một giọt nước ngọc chạm vào mặt hồ phẳng lặng; khi ấy, không một chiếc kim nào có thể tiến thêm bước nữa.
Một lời tuyên cáo sáng rõ và giản đơn đến ngỡ ngàng, một bài diễn văn được viết bằng thứ ngôn từ mà ngay cả những kẻ ngoại đạo cũng dễ dàng thấu triệt, tất cả là để truyền đến tai toàn thể người dân châu Âu. Giữa thời đại mà chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa duy vật đang lộng hành, để thức tỉnh và ôm trọn cả những kẻ đã quay lưng lại với tôn giáo, để dõng dạc cáo tri với muôn dân rằng Đấng Kitô đang ngự trị nơi đây, chúng cất lời một cách ngắn gọn và súc tích.
"Thông qua bản sao Ein Feshkha, chúng tôi đã thấu tỏ những việc mình cần phải làm. Do đó kể từ bây giờ, chúng tôi thi hành đúng theo những lời mà tiên tri Cựu ước mới truyền dạy ngày hôm nay. Đấng Kitô hiện đang ngự trị ngay tại trần thế này. Ngài đã tìm đến thời đại này dưới hình hài hèn mọn nhất. Các vị chắc hẳn đều biết rõ.
Mọi người đều biết về kẻ đã làm rúng động mảnh đất của chúng ta vào mười mấy năm trước, một đứa trẻ bị khinh bỉ là kẻ đã uống huyết thú vật và móc tim người vì mắc phải căn bạo bệnh bất hạnh và đê hèn khôn cùng. Ngày hôm nay, Đấng Kitô đã từ bỏ cả chiếc nôi tràn ngập ân điển, sự giàu sang và phước hạnh để tự hạ mình xuống mức thấp hèn nhất của kiếp người bằng bản chất do chính Ngài lựa chọn, hiện thân ngay trên mảnh đất của chúng ta."
Suốt mười mấy năm qua, chúng tôi — những kẻ mải miết đi tìm Đấng Kitô — đã lớn tiếng quở trách đứa trẻ lạc lối, kẻ tưởng chừng như đang làm suy đồi thời thế để đẩy bản thân rời xa Ngài, rằng: Con ơi, sao con lại làm như thế? Kìa, cha và mẹ đã lo lắng tìm con.
Lũ các người đã đối xử với Lukas Askanier đúng như vậy.
"Con ơi, sao con lại làm như thế? Cớ sao lại uống máu sói, cớ sao lại giết người vì máu đào? Hãy nhìn xem! Một thời đại đang bước vào con đường suy đồi bởi một kẻ sinh ra đã chẳng còn cách nào khác ngoài việc đuổi theo huyết dịch mà xem nhẹ mạng sống, một thời đại bất công khiến Đấng Kitô cũng phải đau đớn xót xa!" Một sự thật có thể kết luận được từ đống sự kiện mập mờ ấy là: Lukas Askanier bị căm ghét từ thuở nhỏ cho đến tận ngày hôm nay không đơn thuần là vì cậu ta đã làm cái việc uống máu ghê tởm ấy.
Cậu ta bị căm ghét là bởi cậu ta "không đúng đắn". Thế nào là không đúng đắn? Vì ngươi mà mọi thứ đều trở nên sai lệch. Vì ngươi mà luân lý của thời đại này bị lãng quên, nhân luân bị lãng quên, và thường thức cũng bị lãng quên. Vì ngươi mà tất cả sụp đổ, và vì ngươi mà trật tự không còn được như xưa. Như vậy, lời quở trách của chúng ta hoàn toàn có lý do, lời quở trách của chúng ta đứng về phía cái thiện và là nỗ lực tối thiểu để duy trì đức hạnh. Một kẻ đáng bị chỉ trích được nhào nặn ra như thế.
Kẻ đó chẳng khác nào một kẻ đáng chết.
"Vì sao lại dành sự quan tâm lớn đến nhường ấy cho học thuật nước Đức?", tôi chợt nhớ đến một câu hỏi từng nghe thấy trước đây. Bởi lẽ quá khứ của họ không hề vô can với hiện tại của chúng ta ngày hôm nay. Bởi lẽ chúng ta tuy đã thay đổi kể từ ngày ấy, nhưng thực chất có lẽ chẳng có điều gì tốt đẹp hơn. Dù rất muốn tin rằng mình đang tiến về phía trước, nhưng tôi biết lối suy nghĩ cho rằng nhân loại tiến bộ trong từng khoảnh khắc không phải là một chân lý tuyệt đối, mà thực chất chỉ là một giả thuyết.
Điểm tựa duy nhất để tôi quỳ gối nương tựa vào chỉ là ý nghĩ: Việc cho rằng chẳng có điều gì tốt đẹp hơn thực ra cũng chỉ là một giả thuyết mà thôi. Tôi không phủ nhận lý thuyết của một triết gia nào đó cho rằng việc bám chấp vào chủ nghĩa chính nghĩa tuyệt đối khiến con người đánh mất đức hạnh, nhưng trong trường hợp hiện tại, nó hoàn toàn có thể song hành cùng giả thuyết trước đó. Tôi luôn suy nghĩ. Tôi muốn thấu hiểu con người, muốn thấu hiểu đại chúng.
Vì phải hứng chịu trọn vẹn những lời nói và hành động đặc thù của họ, tôi khát khao muốn biết lý do vì sao họ lại hành xử như vậy. Nếu nguyên nhân là do tuổi đời họ còn non trẻ hay suy nghĩ nông cạn, thì những người lớn tuổi hơn, sở hữu trí tuệ và đức hạnh đáng lẽ phải không dung túng cho điều đó; thế nên, đó không phải là nguyên nhân gốc rễ.
Tôi luôn nhỏ tuổi hơn họ, hoặc ít nhất là bằng tuổi, và trong cái quá trình họ dốc hết sức bình sinh để ném đá quở trách người khác, tôi đã biến thành nông nỗi này và sống đến tận ngày hôm nay. Thế nên, tôi mới bước đến bước đường này. Tôi luôn lội ngược dòng để tìm kiếm nguyên nhân của họ, cứ thế ngược dòng, ngược dòng mà lang thang giữa những kệ sách này đến kệ sách khác rồi tự hỏi: Liệu có thể tự tin khẳng định rằng nước Đức thuở xưa hoàn toàn không liên can đến thế giới trong thời đại của chúng ta không?
Có thể khẳng định chắc chắn! Bởi lẽ chúng ta không đi đến ngày hôm nay từ một bối cảnh địa chính trị giống như họ, họ từng là quốc gia trục trong Thế chiến thứ hai, thế giới được vận hành theo phương thức của các nước Đồng minh, và nước Đức đã đưa ra lời xin lỗi cũng như ăn ăn sâu sắc về những tội ác của mình.
Chúng ta đã tiến bộ kể từ dạo đó, có thể thẳng thắn chỉ ra cái sai là sai, và trong thời đại của chúng ta—nơi nỗi kinh hoàng của Thế chiến thứ hai đã lùi xa và để lại bài học xương máu—sẽ không bao giờ xảy ra bất kỳ hình thức sát hại hay diệt chủng nhân cách nào nữa.
Trong thời đại của chúng ta, một nước Đức Quốc xã sẽ không bao giờ tái sinh, và những mảnh vỡ vụn gợi nhắc về họ—như thuyết ưu sinh vốn dung túng cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa quốc gia, hay việc phi nhân hóa áp đặt lên từng cá nhân—cũng có xác suất hồi sinh vô cùng thấp; dẫu điều đó có xảy ra, chúng ta cũng sẽ tự mình thanh lọc.
"Quả thực, dù có căng mắt ra nhìn cũng chẳng thấy điểm nào tương đồng", tôi rất muốn cùng tin tưởng với những kẻ phát ngôn câu nói ấy. Tôi dám chắc rằng nếu bản thân có thể suy nghĩ như vậy, tôi đã không rơi vào thảm cảnh ngày hôm nay... Tôi đã nhìn thấy điềm báo của thuyết tân ưu sinh, và trước cả thuyết tân ưu sinh, tôi đã không ít lần chứng kiến lối tư duy ưu sinh tràn lan vốn là nền tảng dung túng cho nó; nghề nghiệp của tôi có lẽ đôi khi bị chỉ trích vì lẽ đó, nhưng tôi chưa từng lên tiếng phản đối.
Thay vì đối thoại mang tính xây dựng hay dốc lòng lắng nghe lập trường của đôi bên, tôi đã chứng kiến những thủ đoạn thao túng dư luận kiểu hễ bị coi là thuộc phe đối lập liền lập tức phi nhân hóa đối phương; và phương thức ấy dẫu bị chỉ trích nhưng lại ngày càng lan rộng. Chính vì thế, tôi không thể đồng tình với một triết gia khác, người đã phân chia trách nhiệm đối với tội ác của Đức Quốc xã thành bốn loại: hình pháp, chính trị, đạo đức và hình nhi thượng học.
Điều đó không có nghĩa là không thể truy cứu tội hình sự của các tội phạm chiến tranh, cũng không phải người dân Đức vô can trước tội lỗi chính trị, đạo đức và hình nhi thượng học, mà bởi vì, trái với ý định của ông, việc phân chia ấy đang thu hẹp phạm vi của tội lỗi. Bởi lẽ trong một xã hội mà chủ nghĩa đa nguyên[note105251] đạo đức lao thẳng đến cực đoan không màng trung dung, sự phân định như thế sẽ không thể truy cứu trọn vẹn trách nhiệm của kẻ đáng ra phải tự suy xét chính mình.
Chủ nghĩa đa nguyên khi chạm đến điểm cực đoan, một cách nghịch lý, lại khiến cho "kẻ khác" không còn tồn tại. Những kẻ chung chí hướng sẽ tụ họp lại. Họ liên kết và cô lập chính mình. Ở bên trong, họ trở nên hoàn toàn đồng nhất; ở bên ngoài, họ cắt đứt mọi sự giao thoa... Thời đại mà tôi từng sống vẫn tiếp diễn như thế. Giống như ngày ấy không chỉ toàn những kẻ tán dương sự ngu muội của thời đại mình, thì hôm nay cũng không chỉ có những kẻ ca tụng sự mê muội của hiện tại.
Chúng ta nhìn thấy bóng dáng của những người đang kêu gọi chúng ta nhìn lại chính mình, để rồi tự huyễn hoặc rằng nhân loại đang tiến bộ. Ta nhìn thấy một tia hy vọng mong manh từ họ. Ngày ấy có kẻ đau đớn xót xa trước sự bất công của thời đại, và hôm nay cũng có kẻ thống khổ trước sự bất công của thời thế.
Nếu vậy, việc dùng ý nghĩ cho rằng nhân loại luôn tiến bộ từ một quá khứ sai lầm và kém cỏi để cắt đứt dòng chảy thời đại, liệu có thể được quyết định dựa trên sự chênh lệch về số lượng của những con người biết tự vấn ấy không? Giữa sự bùng nổ đầy bóp méo của chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa tương đối[note105253], khi các hội nhóm chẳng thèm giao thoa mà chỉ chăm chăm cô lập lẫn nhau, liệu việc phân định giữa tiến bộ và thụt lùi có thể dựa trên quân số của mỗi phe cánh không?
Đối với tôi, lời khẳng định con người liên tục tiến bộ vừa là một niềm hy vọng, nhưng đồng thời cũng là một nhát dao cứa thêm lần nữa. Tôi buộc phải nương tựa vào quan điểm của vị triết gia đã nhắc đến ở trên. Ông nói với tôi rằng, có những giá trị tuyệt đối không được phép mang tính đa nguyên hay tương đối. Tôi đã hỏi vì sao bọn họ lại muốn tôi phải chết, và mọi người bảo rằng không phải tôi, mà chính bọn họ mới là kẻ sai lầm. Bọn họ chiếm một phần không hề nhỏ trong thời đại này.
Thế nhưng, những kẻ đang giận dữ gầm lên hỏi vì sao tôi chưa chết kia cũng chính là trụ cột của thời thế. Tất cả đều là họ. Được phân định nhưng lại chẳng thể phân định rõ ràng. Thế nên, tôi không thể an phận làm một học giả chôn chân nơi học thuật. Quan điểm của tôi không phải là một công lý phổ quát, mà là lời biện hộ và câu hỏi thốt ra ngay trước bờ vực của vách đá sâu hoắm. Là một kẻ buộc phải chết, nhưng không được phép thực sự chết đi, mà phải chết mãi mãi, tôi tự vấn chính mình.
Liệu bọn họ có năng lực suy nghĩ không?
"Do đó chúng tôi biết rõ rằng phát ngôn ngày hôm nay của chúng tôi rất có thể sẽ bị coi là một hành vi tàn ác giống như Công hội của các thủ lĩnh Do Thái từng đẩy Chúa Kitô vào con đường chết. Thế nhưng, bản sao Ein Feshkha chỉ lối cho chúng tôi phải làm như vậy. Chỉ có như vậy chúng tôi mới thực sự là chính mình." Tôi méo mó mặt mày rồi bật cười thành tiếng. Pleroma đang công khai tuyên bố dã tâm của chúng, vô tình thả xuống cho tôi một sợi dây cứu sinh.
Chính vì thế, những gì Pleroma mang lại cho tôi thậm chí còn ít tàn bạo hơn sự bạo liệt mà nghề nghiệp cũ từng áp đặt lên tôi.
Bởi lẽ, từ những luận điệu của kẻ cho rằng việc bắt tôi phải chết, nhưng không được thực sự chết đi mà phải chết mãi mãi mới là một đức hạnh, nghề nghiệp của tôi đã bị xem như mặc định phải coi cái "đức hạnh" ép buộc ấy là yếu tố cốt lõi; thế nên, chưa một ai từng nỗ lực bảo vệ tôi khỏi kiếp nạn đã khơi mào, giống như cách Pleroma đang tự thân tuyên cáo rằng chúng sẽ hành xử y hệt như Công hội Do Thái vậy. Tôi đã đánh mất quyền kiểm soát.
Có lẽ đồng tiền đã tiếp tay cho luận điệu biến một kẻ đáng bị sỉ nhục thành kẻ phải coi việc chịu sỉ nhục là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng đến nước này thì điều đó chẳng còn quan trọng nữa.
Trái lại, Pleroma đã ban cho tôi một đặc ân như trò đùa trước khi buông tay khỏi bộ điều khiển của kiếp nạn này. Kể từ giờ phút này, tôi buộc phải đặt cược vào khả năng thấu hiểu của đại chúng đối với câu nói duy nhất ấy. Liệu các người có hiểu được hàm ý thực sự sau lời tuyên cáo của Pleroma không? Liệu tôi có thể tin rằng các người hiện tại không hùa theo một cách mù quáng đúng như những gì Pleroma mong muốn không? Tất cả những năm tháng qua đã cho tôi câu trả lời.
Tuyệt đối không thể tin tưởng.
Thời gian trôi qua. Con số từ +7 sụt xuống +6. Rồi từ +6 sụt xuống +5. Phải quay ngược thời gian thôi. Thế nhưng tôi lại tự hỏi bản thân một lần nữa. Những gì đã định sẵn sẽ xảy ra thì dẫu có quay ngược thời gian cũng vẫn sẽ xảy ra mà thôi. Tôi đã nếm trải điều này hơn hai mươi lần rồi. Kẻ phải chết vẫn tiếp tục chết, người được sống vẫn cứ sống, và kẻ rơi xuống vị trí ấy vẫn sẽ sa chân ngã xuống. Dẫu đôi khi kẻ chết người sống có hoán đổi cho nhau, cục diện vĩ mô vẫn không hề suy chuyển.
Vậy thì dẫu có như thế, liệu tôi có nên quay ngược bánh xe thời gian thêm lần nữa không? Quay về thời điểm nào đây? Cậu nói cậu đi giết cừu cơ mà. Phải rồi, có phải cậu định thay đổi vận mệnh không? Để rồi chuốc lấy thất bại và giờ đang có mặt tại "Thủ đô" đúng không? Cậu chưa từng nói việc ấy có liên can đến tôi, vậy mà tôi lại nghiễm nhiên nghĩ như thế. Một cách vô cùng tự nhiên. Tôi không biết liệu lời tiên tri của Narke Farnese đã mất đi sự linh nghiệm, hay vì không thể chặn đứng nên ông mới chọn cách lặng im.
Dẫu vậy tôi không hề oán trách ông. Tôi chẳng thể oán hận một ai trên đời này cả. Mọi sự đã không diễn ra như vậy. Thế nên tôi mới ngu muội đứng ngoài cuộc mà ngoài mặt quan sát cho đến tận phút cuối cùng, đúng thế. Như vậy mà cũng coi là con người sao? Lời oán thán và tiếng ngợi khen gom góp suốt một đời hòa lẫn, trộn trào vào nhau.
"Chính vì thế ngươi mới không phải là con người." Âm thanh ấy như đang văng vẳng bên tai. Tôi mở miệng, vô thức xướng lên một câu chú thần bí. Mọi từ ngữ tụ lại thành một khối đặc quánh rồi lại vỡ tan ra thành trăm mảnh vụn. Đầu óc tôi hoàn toàn tỉnh táo, và tôi ra sức chạy. Tôi buộc phải trở nên mạnh mẽ. Vì lẽ đó, nương theo dòng chảy của thời gian, tôi phải rũ bỏ và quên sạch sành sanh mọi thứ. Chẳng rõ nguyên do, chỉ có mệnh đề duy nhất ấy găm chặt vào trí óc. Nó trở thành động lực thúc đẩy tôi lao đi.
Tôi triệt để ngó lơ những gì sắp sửa xảy đến ở tương lai, giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra, gạt phăng ý chí của bản thân sang một bên; và rồi, tôi cảm nhận được có một ai đó vừa gục ngã dưới lưỡi kiếm của mình. Tôi cảm giác có một thứ gì đó nhớp nháp vừa vỡ vụn dưới đế giày ủng. Đôi khi, việc ráo riết sải bước giúp đầu óc thêm phần sáng suốt. Tôi đang suy nghĩ về điều gì vậy? Chẳng rõ thứ gì đang đọng lại một cách đặc quánh nơi lồng ngực, khiến tôi cảm thấy bức bối và bồn chồn khôn nguôi.
Mâu thuẫn chồng chất mâu thuẫn, mâu thuẫn đè lên mâu thuẫn; tôi đổ thêm chút tiên dược lên vệt máu thình lình bắn vào mắt mình rồi không chút ngần ngại tiếp tục lao đi. Cứ tự nhủ như vậy đấy.
"Đấng Kitô sẽ dùng lửa để tôi luyện trần gian và dùng lửa để hủy diệt chúng ta." Tôi không thể nhắm mắt lại.
"Thế nhưng, cái ngày Ngài dùng ngọn lửa phán xét ấy để cứu rỗi chúng ta đã chẳng còn xa nữa." Tôi hoàn toàn mù tịt về phương thức cứu rỗi, và càng không biết liệu bản thân có đủ tư cách để nhận lãnh điều đó hay không.
Cái tên Lukas Askanier hiện đang chực chờ trên bờ môi của vạn dân khắp châu Âu cùng tất cả những sự kiện sắp sửa nổ ra sau này vốn không phải là tương lai chưa tới, mà là quá khứ đã từng tồn tại; không phải quá khứ xa xôi, mà là hiện tại của ngày hôm nay; không phải hiện tại trước mắt, mà là tương lai nối tiếp ngay sau. Ngày hôm qua, ngày hôm nay, hay ngày mai, tôi chưa từng buông lời oán hận đối với bờ môi và những cặp mắt lấp loáng của toàn bộ lục địa này. Thay vào đó, tôi chỉ biết tự thở dài và lo lắng.
Toàn bộ thời gian đồng loạt rền vang bên trong tâm trí. Con ơi, sao con lại làm như thế? Kìa, cha và mẹ đã lo lắng tìm con.
Vì thế, tôi cất lời đáp lại lũ các người. Cớ sao các người lại tìm tôi? Các người há chẳng biết rằng tôi vẫn luôn đứng vững tại nơi đây, còn chính các người mới là kẻ đã quay lưng rời bỏ vị trí của mình trong từng khoảnh khắc hay sao?
Vào lúc 6 giờ 7 phút, Đại tướng Oettingen cắm một chiếc ghim bảo vật vào bức tranh được phác họa bằng ma lực. Nương theo từng chiếc ghim lão cắm xuống, một hình ảnh tương tự lập tức hiển hiện trên tấm bản đồ chiến lược khổng lồ đặt ở chiếc bàn phía sau.
Toàn vương quốc Bayern có tổng cộng 8 giáo phận Pleroma. Trong số đó, Tổng giáo phận München–Freising nghe nói đã bị quét sạch hoàn toàn, số nhân lực còn sót lại hiện đang đồn trú tại ban đầu não. Như vậy, thực chất số giáo phận Pleroma vùng Bayern chỉ còn lại 7; thế nhưng, lũ quỷ quyệt ấy đã xảo quyệt dịch chuyển vị trí của 3 giáo phận vùng nam sang tận khu vực Brandenburg. Điều này tuyệt đối không đem lại bất kỳ lợi lộc nào cho Bayern.
Đồng nghĩa với việc chúng ta không những không bắt giữ được hàng vạn tín đồ Pleroma từng xem mảnh đất Bayern là quê hương của mình, mà còn phải ngậm bồ hòn làm ngọt đứng nhìn chúng nhàn nhã đồn trú ở tận vương quốc Phổ xa xôi! Mà lực lượng nòng cốt của Pleroma thì chẳng hề suy suyển lấy một phân. Đại tướng Oettingen hít vào một hơi thật sâu rồi mím chặt môi.
Thế nhưng, nếu chúng tồn tại song hành, việc xử lý bốn Giáo phận phía Bắc quả thực sẽ trở nên vô cùng cam go. Mục tiêu cốt lõi lúc này là phải quét sạch hoàn toàn bốn Giáo phận phía Bắc—tức Giáo tỉnh Bamberg—những kẻ đang cắm rễ trên đất Bayern và thừa sức tạo ra mối đe dọa quân sự thực tế cho vương quốc.
Dựa theo trình tự xuất kích đã vạch sẵn, khu vực đầu não cốt lõi là Bamberg–Eichstätt sẽ do Lữ đoàn 10 Bộ binh, Trung đoàn 2 Bộ binh cùng các pháp sư Catacomb đảm nhiệm với tổng quân số 70 người; giáo phận Würzburg sẽ do Lữ đoàn 7 Bộ binh, Sư đoàn 10 cùng các pháp sư Catacomb xử lý với tổng cộng 151 người; còn giáo phận Speyer sẽ do Lữ đoàn 11 Bộ binh, Sư đoàn 8 cùng lực lượng pháp sư Catacomb phụ trách với tổng số 132 người.
Tại khu vực "Thủ đô", một đội quân tình nguyện đã được phái đi làm nhiệm vụ trinh sát; họ hiện vẫn đang trong trạng thái chờ lệnh, một khi nhận được tín hiệu từ đội quân này thì chiến dịch mới chính thức bắt đầu. Xét thấy số lượng pháp sư vô cùng ít ỏi so với người thường, vương quốc không thể điều động quân số vượt quá mức này. Dẫu vậy, với tối thiểu 70 người và tối đa lên tới 151 người đồng loạt bao vây tấn công, vị giám mục kia dẫu có mọc cánh cũng vô phương chống đỡ.
Cho dù là một pháp sư hùng mạnh đến đâu, việc phải đơn thương độc mã đối địch với hàng chục con người là điều hoàn toàn bất khả thi. Chưa kể toàn bộ binh sĩ quân đội vương quốc tham chiến lần này đều là những tay thiện chiến được tuyển chọn gắt gao từ trong và ngoài nước.
"Bằng mọi giá phải chặn đứng con đường đào tẩu về ban đầu não của chúng. Cho dù có chuyện gì xảy ra, đây luôn là ưu tiên hàng đầu."
Oettingen đưa ra chỉ thị như vậy, song phía "Thủ đô" vẫn bặt vô âm tín. Số tiền đổ vào chiến dịch lần này quả thực là một con số khổng lồ thiên văn! Việc bẻ cong hệ tọa độ dù chỉ trong thoáng chốc đã ngốn một khoản kinh phí vô cùng kinh ngạc. Tuy nhiên, nhờ có sự chuẩn bị kỹ lưỡng này, việc ngăn chặn chúng tháo chạy về đầu não hoàn toàn nằm trong tầm tay. Vào lúc 6 giờ 10 phút, những thuộc hạ đang túc trực nhận tin qua bảo vật liên lạc bắt đầu lần lượt lên tiếng báo cáo.
"Báo cáo, Sư đoàn 10 vừa truyền tin về. Đã hạ sát thành công một trong hai vị Giám mục phụ tá đi cùng Giám mục Würzburg và gã Phó giám mục. Hiện tại ghi nhận 5 người bị thương, không có ai tử trận."
"Sư đoàn 8 báo cáo đã hạ sát thành công Giám mục phụ tá và Phó giám mục giáo phận Speyer. Thương vong gồm 23 người bị thương, không có ai tử trận. Do số lượng người bị thương khá lớn, tôi đã ra lệnh cho họ tạm thời đồn trú tại chỗ và cung cấp tọa độ tạm thời của trạm y tế."
Oettingen hài lòng gật đầu, rồi dời tầm mắt về phía chiến trường cốt lõi nhất: Bamberg–Eichstätt. Hình ảnh truyền về từ những chiếc gương gắn trên vai của từng binh sĩ chiếm trọn một khoảng tường lớn. Khác với vị Giám mục giáo phận Speyer ngu muội cứ quanh quẩn lẩn trốn trong giáo phận của mình, hai vị giám mục kia đã nhanh chân đào tẩu về phía trung tâm thành phố Nuremberg.
Tiếng gầm rú rền vang chấn động át đi phần lớn tạp âm từ hiện trường, và cho đến lúc này vẫn chưa có thêm bất kỳ báo cáo cụ thể nào được gửi về.
Đúng lúc ấy, một thuộc hạ bước đến báo cáo:
"Thưa Đại tướng, buổi phát sóng của Pleroma đã kết thúc."
Oettingen ngắt một bên bảo vật liên lạc, chuyển giao đường truyền cho phó quan của mình rồi cất tiếng hỏi:
"Được rồi, cuối cùng tai ta cũng được yên tĩnh đôi chút. Bọn chúng đã nói những gì?"
"Bọn chúng khẳng định đã tìm thấy một bản sao Kinh Thánh hoàn toàn mới tại vùng Palestine thuộc Đế quốc Ottoman."
Oettingen cau mày, há hốc mồm kinh ngạc. Một bản sao mới sao! Nếu đúng là vậy thì số lượng các văn thư Kinh Thánh sẽ được bổ sung thêm sao? Hay đó chỉ là một bản sao của các văn bản sẵn có? Dù có là trường hợp nào đi chăng nữa, việc một món tạo vật vô giá như thế rơi vào tay bọn chúng là điều tuyệt đối không thể dung thứ. Phải lập tức tập hợp các nhà khảo cổ học trên khắp vương quốc Bayern để phái đến Đế quốc Ottoman ngay lập tức.
Thế nhưng, đây không phải là chuyện có thể bận tâm giữa lúc chiến dịch đang dầu sôi lửa bỏng, vậy nên Oettingen lạnh lùng hỏi vặn lại:
"Chỉ có thế thôi sao?"
"Dạ không, chuyện là…"
Thấy gã thuộc hạ ngập ngừng bỏ lửng câu nói, đôi mắt đảo liên hồi đầy vẻ bồn chồn, Oettingen lúc này mới nhận ra sắc mặt của đối phương đã cắt không còn một giọt máu. Khác hẳn với những pháp sư đang tất bật nhận và truyền đạt báo cáo xung quanh phòng chiến lược, gã thuộc hạ này trông chẳng khác nào một cái xác không hồn. Nghĩ lại thì trong số những người ở đây, chỉ có mình gã là vừa bước ra ngoài để lắng nghe lời tuyên cáo của Pleroma.
Thế nhưng việc tỏ ra yếu nhược đến nhường này quả thực khó coi, Oettingen nghiêm giọng khiển trách:
"Cậu đang rảnh rỗi quá đấy à?"
"Dạ không phải đâu ạ. Thưa Đại tướng, Pleroma khẳng định Đấng Cứu Thế Kitô đã chính thức giáng thế ngay tại trần gian này."
"Cái gì? Từ bao giờ?"
Bọn chúng đâu có nói là từ bao giờ... Gã thuộc hạ trưng ra bộ mặt ngơ ngác đầy khó xử, chẳng biết phải mở lời đáp lại ra sao. Oettingen bực dọc gắt gỏng:
"Nếu không biết thì cứ nói là không biết rồi lui ra đi! Tầm này mà cậu còn bận tâm đến mấy lời nhảm nhí của bọn chúng làm gì? Đấng Kitô tái lâm cái nỗi gì chứ, thế rốt cuộc bọn chúng bảo Ngài giáng thế ở đâu? Phải công nhận nếu là ngày thường thì chắc người dân đã cuống cuồng chạy đến nhà thờ rồi, nhưng vào lúc này, ngay cả các pháp sư của chúng ta cũng tuyệt đối không để bản thân bị lay động đâu."
"Chính là Lukas Askanier ạ."
Oettingen nhắm nghiền mắt, khẽ nhăn mặt đầy bực bội. Lão day mạnh hai bên mí mắt rồi mở ra, trừng mắt nhìn gã thuộc hạ một cách cáu bẳn. Cái gì cơ? Lukas Askanier thì liên quan cái quái gì ở đây?
Gã thuộc hạ quýnh quáng xua tay phân trần:
"Bọn chúng thực sự đã tuyên bố như vậy đấy ạ! Xin ngài hãy kiểm tra tờ Báo chí Đế quốc mà xem. Động thái của chính phủ vương quốc Phổ mà cục tình báo của chúng ta ghi nhận được cũng đang vô cùng bất thường."
Oettingen không tin nổi vào tai mình nữa. Lão bật ra một tiếng cười khan, thầm nghĩ ý nghĩ vừa xẹt qua đầu mình quả thực quá đỗi xúc phạm thánh thần.
"Thế rồi sao, cái tên Lukas Askanier đó thì liên can gì tiếp theo?"
"Bọn chúng dõng dạc tuyên bố rằng Lukas Askanier chính là Đấng Cứu Thế."
Một bầu không khí im lặng đến rợn người bao trùm không gian. Những pháp sư vô tình nghe thấy cuộc đối thoại bỗng chốc khựng lại, há hốc mồm kinh ngạc. Mọi ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía hai người bọn họ. Dù các pháp sư nhanh chóng sực tỉnh để quay trở lại với nhiệm vụ của mình, song ánh mắt của họ đã dao động một cách dữ dội. Và Oettingen cũng chẳng phải ngoại lệ.
"Thưa Đại tướng, vì ngài đang tập trung chỉ huy chiến dịch nên chưa nắm được phản ứng của dư luận bên ngoài đâu ạ."
Oettingen lắc đầu, lầm bầm tự hỏi:
"Cái gã nhóc con của phe Pleroma đó."
"Dạ đúng vậy."
"Gã sở hữu đôi mắt đỏ ngầu ấy…"
"Vâng, chính là người mà Đại tướng đang nhắc tới đấy ạ. Pleroma quả thực đang rêu rao rằng gã chính là Đấng Kitô."
Oettingen cũng tái mét mặt mày, đưa tay quẹt nhẹ khóe môi. Biết ngay mà. Ta đã đoán trước được rồi. Bản thân lão đã nhìn thấu dã tâm của chúng kể từ cái ngày gã tàn dư nhà Anhalt—tên ma cà rồng đáng lý phải bị tiêu hủy ấy—vẫn được phép giữ lại mạng sống. Không thể hiểu nổi vì sao Pleroma lại tôn sùng tên ma cà rồng đó làm Đấng Kitô. Chẳng phải gã chính là kẻ tội đồ bôi nhọ thanh danh của chúng, đáng ra phải bị ruồng bỏ hay sao? Chắc chắn phải ẩn chứa uẩn khúc gì đó ở phía sau.
Giữa bọn chúng và Pleroma hẳn đã có một sự cấu kết vô cùng sâu đậm mà chúng ta không hề hay biết. Hoặc giả, gã đang sở hữu một năng lực siêu nhiên nào đó khiến Pleroma phải sùng bái... phải rồi, biết đâu cái khát vọng thèm khát huyết dịch ấy lại ẩn chứa một bí mật kinh hoàng nào đó? Nghĩ đến những bài báo từng đọc từ mười mấy năm trước, Oettingen cảm thấy lồng ngực mình lộn nhạo, cồn cào như muốn nôn mửa. Lão quay ngoắt người lại, nghiêm giọng cảnh cáo gã thuộc hạ:
"Quả là chuyện điên rồ hết chỗ nói. Ta đã thấy có điềm chẳng lành kể từ khi vương quốc Phổ hồ hởi trọng dụng gã rồi. Cậu chắc chắn không tin vào những lời nhảm nhí của bọn tà giáo này đấy chứ?"
"Dĩ nhiên rồi. Tôi là một Kitô ngoan đạo. Đấng Kitô của tôi chỉ có duy nhất Chúa Giêsu Kitô mà thôi."
Phải như vậy chứ. Oettingen cảm thấy cái đầu mình đang dần lạnh lại. Lão buộc phải duy trì sự bình tĩnh tuyệt đối. Đúng lúc ấy, tầm mắt lão chạm vào bảng hiển thị tình hình tại Nuremberg. Ngắm nhìn những hình ảnh truyền về từ chiếc gương gắn trên vai của Nikolaus Ernst và Thái tử, Oettingen khẽ gật đầu tâm đắc.
"Quả là một nước đi nhân sự mang đậm phong cách của bọn chúng. Cái gì mà Đấng Kitô chứ... Nực cười, thà rằng bọn chúng rêu rao Ngài Ernst mới là Đấng Cứu Thế thì có khi còn khiến người ta hoang mang hơn đôi chút đấy."
"Dạ đúng vậy ạ."
"Xem ra đến cuối cùng cái tên Nikolaus Ernst vẫn không bị chúng lôi vào cái danh hiệu Đấng Cứu Thế kia nhỉ. Chắc là vì bản thân bọn chúng đã phải nếm chịu quá nhiều tổn thất dưới tay ngài ấy rồi..."
Đại tướng Oettingen và gã thuộc hạ cố nở một nụ cười gượng gạo để tiếp tục cuộc trò chuyện. À, quả thực là như vậy. Nikolaus Ernst chính là người đã lập nên những chiến công hiển hách, đẩy Pleroma bước vào con đường diệt vong không lối thoát. Ngài là người đầu tiên thẳng thắn vạch trần vấn đề tại các khu vực mà chính phủ Đế quốc cố tình bưng bít dưới cái mác "vùng ô nhiễm" trước Hội đồng Liên bang, nhờ đó chặn đứng ngay từ trong trứng nước kế hoạch vũ khí sinh học đầy tham vọng mà Pleroma đang âm thầm xây dựng.
Chưa kể đến những loại dược phẩm cuồng loạn của bọn chúng thì sao? Bayern chính là quốc gia đầu tiên trên toàn quốc thiết lập nên một hệ thống ứng phó thần tốc và hiệu quả trước vấn đề cuồng loạn này. Nhờ có những nước đi can thiệp chuẩn xác của Nikolaus Ernst trước khi kế hoạch của chúng chính thức được kích hoạt, Đế quốc mới không phải gánh chịu thêm bất kỳ mối hiểm họa nào khác ngoài những nguy cơ vốn có.
Việc dồn ép Pleroma vào chân tường và vắt kiệt sức lực của chúng hoàn toàn là công lao của ngài, và ngay cả trong chiến dịch truy quét toàn bộ mạng lưới Pleroma tại vùng Bayern như hiện tại, sự chuẩn bị cũng như kế hoạch tác chiến của ngài vẫn đóng một vai trò vô cùng tiên quyết.
Nếu xét theo khía cạnh đó thì hành tung của Lukas Askanier cũng có đôi chút uẩn khúc... Thế nhưng, chuyện đó hạ hồi phân giải. Oettingen kết nối lại đường truyền của bảo vật liên lạc, dõng dạc hét lớn vào tai các pháp sư đang có mặt tại hiện trường Nuremberg:
"Tuyệt đối không được phép dao động! Không một ai được để bản thân bị mê hoặc bởi những lời nhảm nhí về việc gã học sinh đó là Đấng Kitô. Việc giải đáp thắc mắc hay kết liễu gã học sinh ấy hoàn toàn không phải là nhiệm vụ của chúng ta trong ngày hôm nay!"
"Nếu đã biết trước kế hoạch tuyên cáo lúc 6 giờ của Pleroma mà vẫn để bản thân bị xoay như chong chóng, thì chúng ta không xứng đáng làm pháp sư của Bayern." Lão nuốt ngược những lời định thốt ra ấy vào trong lòng. So với những người đang nháo nhào bên ngoài phòng chiến lược thì Oettingen trông có vẻ bình tĩnh nhất, song với tư cách là một quân nhân, nội tâm lão đang gợn sóng dữ dội hơn bao giờ hết. Lão quay sang hỏi gã thuộc hạ phụ trách đường truyền của Thái tử:
"Đã nhận được liên lạc từ Thái tử Điện hạ chưa?"
"Dạ vẫn chưa ạ. Giám mục Eichstätt hành động vô cùng quỷ quyệt và có chiến thuật rõ ràng."
Oettingen mím chặt môi, khẽ gật đầu thấu hiểu. Lão chuyển đổi đường truyền để lắng nghe tình hình bên phía Nikolaus Ernst, rồi vặn lớn âm lượng của một bên bảo vật liên lạc lên.
[Ấy là vì Ta hối hận vì đã dựng nên chúng...] Giữa tiếng tụng niệm chú thức mơ hồ vang vọng, đúng lúc ấy, một tiếng hét thất thanh thình lình nổ ra từ phía chiếc bàn phụ trách theo dõi Nikolaus Ernst.
"Thưa Đại tướng, Ngài Nikolaus Ernst đã giành chiến thắng rồi ạ!"
Oettingen vội vã dời mắt nhìn về phía màn hình hiển thị hình ảnh tại Nuremberg. Xác chết của Tổng giám mục Bamberg đã hiện ra rõ mồn một. Xung quanh, bóng dáng của người dân đang nhoài nửa người ra khỏi các ô cửa sổ xuất hiện dày đặc khắp nơi. Một tiếng rì rầm khổng lồ vang dội truyền đến, song âm thanh này hoàn toàn khác biệt so với lời tuyên cáo của Pleroma lúc trước. Đây rõ ràng là giọng nói của đại chúng.
Oettingen không một cái chớp mắt, dán chặt tầm mắt quan sát đại ngàn và khu trung tâm bao bọc quanh Nikolaus Ernst để nhận diện âm thanh.
"Nikolaus, Thống chế Nikolaus Ernst." Đó chính là tiếng tung hô vang trời dành cho ngài. Những tiếng reo hò chồng chéo trộn lẫn vào nhau. Một thuộc hạ với gương mặt ngập tràn niềm hân hoan rống lớn:
"Toàn bộ vùng tây Nuremberg hiện đang vang dội tiếng ca tụng dành cho Ngài Ernst rồi ạ! Thưa Đại tướng, chiến thắng một lần nữa lại thuộc về Bayern vĩ đại!"
"Còn quá sớm để ăn mừng đấy."
Oettingen dứt khoát ngắt lời đối phương. Thế nhưng, một nụ cười rạng rỡ từ lúc nào đã nhen nhóm và lan tỏa khắp gương mặt lão.
Bởi vì Nikolaus Ernst quả thực đang giành lấy chiến thắng một cách vô cùng vẻ vang. Tiếp nối thành công của chiến dịch tiêu diệt vị Giám mục yếu nhất tại giáo phận Speyer, ngài đã xuất sắc kết liễu kẻ được mệnh danh là hùng mạnh nhất—Tổng giám mục Bamberg—với quân số tối thiểu và tốc độ thần tốc đến kinh ngạc.
Chỉ cần có ngài ở đây, lời tuyên bố về Đấng Kitô của Pleroma chắc chắn sẽ chẳng thể gây nên bất kỳ kiếp nạn to tát nào nữa.

Giữ khẩu khí thanh khiết — không văn tục, không phá chính trị.
Nhập môn