Chương 528: 529
Cách sống sót với tư cách con trai thứ của gia đình phép thuật · Miumiuma · 557 chương · ~87 phút đọc · Tạo 09/08/2026
Tập 1 Anh tạm thời rời bỏ dòng chảy của thời gian. Giờ đây, anh không là ai cả, chỉ là chính bản thân anh. Tại vị trí ấy, bất cứ điều gì cũng có thể lấp đầy khoảng trống. Thân xác chết chóc từng trợn trừng mắt trò chuyện bên cạnh anh vốn dĩ chưa từng tồn tại, mà giờ đây lại càng bặt vô âm tín, chẳng thể tìm thấy dấu vết. Thế nhưng, không phải cái xác ấy biến mất để trở về nơi nó nên thuộc về, mà chính anh mới là người đã chủ động rời bỏ vị trí đó.
Sự hỗn loạn và điên cuồng ở Nürnberg đang trong quá trình thu xếp, cùng những giáo khu Pleroma mà anh đã thổi bay trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, giờ đây tất thảy đều chìm vào tĩnh lặng.
Giờ đây, anh không còn bị trói buộc bởi những trang giấy tôn giáo, triết học, văn học, khoa học hay lịch sử—những con chữ ghi dấu ký ức, châm ngôn và ngụ ngôn của nhân loại, nơi anh từng lạc lối suốt thời gian dài để tìm kiếm câu trả lời. Thay vào đó, anh ngắm nhìn màn sương mờ mịt hiện ra từ một tờ giấy trắng xóa tựa như hoang mạc. Anh nhìn vào hàng vạn cái đầu đang cấu thành nên màn sương ấy.
Anh biết những cái đầu ấy đang hướng về phía mình mà gào thét: "Chúng ta phải nhìn thấy hắn bị đóng đinh vào thập tự giá ngay lập tức!" Dẫu không nhìn, không nghe, anh vẫn thấy và vẫn nghe rõ mồn một. Ngay từ đầu, anh đã chẳng cần phải bám víu vào những con số biến động trong chớp mắt. Anh biết rõ hơn ai hết những điều mà kẻ xa lạ hoàn toàn đang gieo rắc xuống thế gian này.
Vì từng sống như một con người, anh nghĩ đến những người phụ nữ bị thiêu sống vì bị coi là phù thủy. Vì mắc phải bệnh tật, anh nghĩ đến những người bệnh phong bị gạt ra ngoài lề như những xác sống dù vẫn đang thở. Vì sự tồn tại của chính mình, anh nghĩ đến những dân tộc bị thảm sát trong phòng kín, trên hoang mạc, hay giữa lòng đô thị.
Những điều đó đôi khi có cùng một nguyên lý với một vụ sát hại cá nhân, nên anh luôn muốn tìm ra nguyên nhân cốt lõi. Anh hồi tưởng lại những gì có lẽ từng là cuộc đời mình. Anh nhớ lại tất cả những lời lẽ mà những kẻ xa lạ buông ra về anh, về đồng đội của anh và về tất cả mọi người. Anh bàng quan chứng kiến cảnh mình bị chúng sát hại, nhưng có lẽ lại cảm thấy đau xót như thể đang đối diện với cái chết của một người khác.
Tuy nhiên, anh vẫn loạng choạng và gục đầu xuống khi nghĩ đến việc những "bản thể" vô hình của chính mình đang bị chúng tước đoạt mạng sống ở khắp nơi trên thế giới.
Con sóng tham lam không chút bao dung hay thấu hiểu ấy—dù bản thân chúng có tin vào điều gì đi chăng nữa—khi tự soi xét một cách nghiêm khắc, luôn cố tình chừa bản thân và hội nhóm của mình ra. Chính vì thế, sự liêm khiết, chính trực và công bình tựa như giọt sương sớm trong lòng chúng không còn đúng đắn, không còn vô tư và cũng chẳng còn ngay thẳng nữa. Anh nghe thấy những tiếng nói đang phán xét cuộc đời của một con người:
"Ta, người không phải lúc nào cũng chính nghĩa nhưng phần lớn thời gian đều đúng đắn, ta—kẻ chắc chắn sở hữu cái nhìn khách quan—bảo ngươi sai, tức là ngươi là một sự tồn tại sai lầm. Và khi tất cả chúng ta đồng thanh nói rằng ngươi đã lớn lên thành một kẻ tội lỗi, thì rõ ràng ngươi vẫn là một tồn tại sai trái. Ngươi xứng đáng được làm người, nhưng ngươi cũng hoàn toàn không xứng đáng được làm người."
Những cái đầu ấy đã chẳng chút ngần ngại, chẳng chút đắn đo, dùng chung một phương thức để tuyên bố rằng sự tồn tại này là bất chính và hoàn toàn sai lệch. Chúng đóng đinh găm chặt vào đôi tay của hết người này đến người khác rồi treo lên, dõng dạc tuyên bố đó chính là công lý, là đại nghĩa, là sự đúng đắn. Xét về tư cách luận bàn chuyện đúng sai của một kiếp người, ngươi và ta nào có khác gì nhau? Kẻ không muốn chịu điều gì thì đừng làm điều đó cho người khác.
Khi ngươi đặt mình vào vị trí của người ta để suy ngẫm, khi vài năm trôi qua nhìn nhận lại, khi cảm xúc đã nguôi ngoai và ngươi của ngày hôm nay trở thành một kẻ đứng ngoài cuộc nhìn lại quá khứ mà bảo "chuyện như vậy cũng từng xảy ra đấy thôi", liệu ngươi có dám tự tin rằng việc mình đang làm không để lại một chút gợn lòng nào trong tâm can của ngươi và người lân cận?
Những tiếng nói của quá khứ, hiện tại và tương lai đồng thanh đáp lại:
"Đúng thế. Ta có thể đặt tay lên ngực tự trọng mà tuyên bố rằng mình đang thực thi đại nghĩa. Thế nên, hãy mau để chúng ta nhìn thấy kẻ tội lỗi bị treo trên thập tự giá. Ta phải tận mắt chứng kiến niềm hoan lạc khi cái sai được uốn nắn thành cái đúng, kẻ tội lỗi bị tiêu diệt và công lý bao trùm lên vạn vật trên thế gian này."
Vì vậy, anh đã đến nơi này. Anh có thể sẽ lại phải chết theo đúng ý đồ của Pleroma. Liệu anh có thể ôm giữ một hy vọng thực tế nào không? Có thấy uất ức không? Kẻ bị thiêu chết, kẻ bị giam cầm trên đảo hoang và bị đối xử chẳng khác nào rác rưởi, kẻ bị bứng tận gốc tróc tận rễ, tất cả đều chết khi chẳng hề có tội. Tội lỗi duy nhất liên đới đến cái chết của họ chính là sự thiếu soi xét của kẻ thủ ác.
Thế nhưng, kẻ phóng hỏa thiêu sống và ném đá giết người, kẻ coi đồng loại như ác quỷ rồi dồn vào đường chết, kẻ giết người chỉ vì đối phương là một con người... tất nhiên chẳng một ai trong số chúng nghĩ rằng bản thân mình đang ngừng tư duy. Chúng tin chắc rằng mình đã loại bỏ cái ác, đã giáo hóa một cá thể lầm đường lạc lối và đang thực thi ý nguyện của Thần linh. Thần linh của thuở xưa giờ đây đã biến thành "công lý" của ngày hôm nay.
Việc công lý bị ngộ nhận vốn là một vòng tuần hoàn lịch sử chẳng có gì đáng kinh ngạc. Chính vì thế, anh không cảm thấy uất ức.
Nối tiếp hai chén đắng từng phải nếm trải vào một ngày nào đó của thế kỷ 21, giờ đây, trước chén đắng thứ ba mà anh phải uống vào ngày hôm nay—sau khi đã lao về phía trước với ý chí hừng hực như thể quá khứ chưa từng tồn tại—anh bắt đầu nhìn về một con đường khác.
Vì vậy, anh không còn trò chuyện với những xác chết nữa. Anh không còn bị bịt mắt, bị đẩy lên lưng con chiến mã của Thần linh để rồi tung hoành ngang dọc nữa. Thế nhưng, việc anh thấu hiểu lý do tại sao Thiên Chúa lại lắng nghe nỗi sợ hãi của kẻ sát nhân Cain và ban cho hắn một dấu ấn để không một ai có thể giết hắn, vẫn là một sự thật vẹn nguyên. Tại sao một vị Thần luôn công minh chính trực lại giúp đỡ một kẻ giết người không phải đền mạng?
Cuộc tranh luận kéo dài đằng đẵng bên trong anh rốt cuộc đã đưa ra câu trả lời. Thực ra, có lẽ anh đã biết điều đó từ khi kết thúc kiếp sống đầu tiên mà mình nhớ được, nhưng anh đã ngoảnh mặt làm ngơ, và đến ngày hôm nay, anh không thể trốn tránh được nữa.
Anh nắm lấy hàng ngàn bàn tay như những ngọn lau sậy chìa ra từ màn sương và cảm nhận được một nhịp đập kỳ diệu. Thân xác trong tầm mắt anh tuy sạch sẽ khôn cùng, nhưng lòng trắng mắt đã ngả sang màu vàng vọt vì chẳng bao giờ thực sự gột rửa bản thân, cùng với cái "Tôi" và sự chấp niệm bóng loáng hiện lên trên đó, cùng đôi tai và khuôn miệng nhạy bén đang nín thở chờ đợi ngày đòi lại công lý cho riêng mình—tất cả đều trở nên lu mờ trước một nhịp đập không khác gì thuở sơ khai.
Đối với anh, nhịp mạch đều đặn và tĩnh lặng này chính là thanh âm của vũ trụ tồn tại từ thủa hồng hoang. Trước sự nguyên thủy, niềm vui và nỗi buồn đong đầy trong nhịp đập ấy, trái tim anh bỗng trở nên trống rỗng. Cơn thịnh nộ mà anh đáng ra phải trút lên người khác cứ thế tiêu tan.
Dẫu cho phát súng tín hiệu mà sự sống từng bắn lên khi hít vào hơi thở đầu tiên từ thuở xa xưa và sự thuần khiết trước ngưỡng cửa vô định không dễ dàng hiển hiện trong đôi mắt nhuốm màu vàng úa ấy, anh vẫn không muốn chúng sinh bị dồn vào con đường giống như mình. Cho dù có bảo rằng chúng sinh thì không thể thương hại chúng sinh, hay một kẻ từng bị sát hại trong quá khứ không thể đồng cảm với kẻ sẽ hành thích một lần nữa vào ngày hôm nay đi chăng nữa.
Anh vẫn không muốn ánh sáng của sự sống phải gánh chịu những chiếc đinh găm sâu như chính thứ đang găm vào da thịt mình.
Có lẽ anh vẫn đang chìm trong sự hỗn loạn như những khoảnh khắc trò chuyện cùng xác chết, nhưng suy nghĩ rằng bản thân rốt cuộc đã thấu hiểu vì sao kẻ sát hại anh em—kẻ để máu của em trai mình tuôn ra ngoài và thấm vào lòng đất—lại được Đức Giê-hô-va bảo hộ mạng sống dẫu phải gánh chịu lời nguyền rủa của Ngài, thì vẫn vẹn nguyên không đổi.
Ngay cả khi đã thấu hiểu quyết định tưởng chừng như đầy bộc phát của Đức Giê-hô-va, anh vẫn không phải là Đấng Ki-tô như người ta vẫn nói, không phải vị thánh, lại càng không phải giáo sĩ, tín đồ hay một kẻ hữu thần. Anh là một kẻ vô thần bởi anh gọi mọi nỗi cay đắng của thế gian là cay đắng, và anh chưa từng nghĩ hiểu biết của mình là một chân lý hiển nhiên.
Anh chỉ cảm nhận thấy vô vàn điều đang lướt qua tâm can mình. Những cuộc chiến tranh ầm ĩ và những cuộc chiến tranh thầm lặng, những cuộc thảm sát một chiều và câm lặng, cái chết của thể xác và cái chết của tinh thần... Anh nghe thấy sự thuần khiết, sự ngu muội mà chúng đã tước đoạt mà chẳng để dính một giọt máu nào trên tay nên chẳng hề hay biết mình vừa giết chóc; anh nghe thấy những đường gân cổ đang căng lên gào thét "Ta đúng!"
; anh nghe thấy đoàn người tử nạn chưa từng đứt đoạn kể từ thuở bình minh của nhân loại và tiếng khóc than vang vọng giữa hoang mạc. Những tiếng thét gào cay đắng anh từng nghe vô số lần tại nơi này hôm nay lại hiển hiện mồn một trong trí óc.
Anh nghĩ đến những con người đã biến thành đống bùn đất chỉ vì lỡ rung động trước những xúc cảm nhân gian, và cách những con người đó bị chỉ trích, bị chỉ tay năm ngón bởi những kẻ chưa phải nếm trải cái chết, dẫu cho những kẻ ấy chẳng hề biết liệu một ngày nào đó bản thân mình có rơi vào kết cục tương tự hay không. Chính con người mà anh đang cảm nhận được nhịp mạch này chính là người đó, và người đó cũng chính là người này.
Nhân quả, báo ứng hay bất cứ điều gì mới thật hư ảo làm sao; kẻ chết cứ bị giết và kẻ sát nhân cứ tiếp tục sát hại, vậy mà chẳng một ai nghe thấy tiếng khóc than vang vọng khắp thành phố. Ngay cả khi chuỗi ngày có thể phải bỏ mạng cận kề, họ vẫn luôn chọn cách phán xét cái sai của người khác trước tiên. Họ im lặng, im lặng, rồi lại im lặng, để rồi chỉ khi ngày đoạn trường gõ cửa mới hối hận vì sự câm nín của mình, nhưng người chết ngoài việc để lại một cái xác thì chẳng còn cách nào để cất lời...
Chính những kẻ đang sống mới là người thêu dệt nên sự cao quý, nỗi đau buồn, niềm vui sướng và gán ghép ý nghĩa cho cái chết ấy. Anh nghĩ đến một Ralph Huber cũng giống như Gerda Assmann, rồi nghĩ về vô số những Assmann và Huber ngoài kia. Dù cảm nhận được nỗi thống khổ trong mọi định nghĩa về cái chết, anh vẫn chọn ban cho Sarah Hohenfels một dấu ấn. Thứ công lý độc đoán của muôn vàn đôi mắt, bàn tay và khuôn miệng đang gào thét "Phải treo ả lên thập tự giá mà giết đi!"
sẽ chỉ trở thành một sự bất công chạy song song với tội ác của Hohenfels mà thôi. Bởi vì anh không muốn dung túng cho điều đó. Và khi những đôi mắt, bàn tay, khuôn miệng ấy đối diện với lượt lên đoạn đầu đài của chính mình vào một ngày nào đó, anh cũng sẽ ban cho chúng một dấu ấn. Nếu anh có đủ năng lực, ít nhất là trong thế giới của riêng anh.
Cứ như thế, lòng từ bi và lời thức tỉnh tự soi xét đồng thời trở thành dấu ấn của sự cứu rỗi. Không phải vì anh là Đấng Ki-tô như ai đó rêu rao, mà bởi vì đó là lựa chọn trong cuộc đời của riêng cá nhân anh. Chẳng phải xã hội được cấu thành từ những cá nhân sao? Dẫu cho trong tâm trí xa xuôi anh có điên cuồng vì sự trói buộc của Kinh Thánh, anh vẫn, luôn và mãi mãi biết rõ rằng mình chỉ là một con người tầm thường, một chúng sinh nhỏ bé.
Anh biết mình đã làm được một điều bất khả thi trong trận chiến. Những kẻ anh cần phải hạ gục đã ngừng tấn công và ngoan ngoãn quy phục trước quyết định của anh. Bằng cách đó, anh đã mang lại chiến thắng cho vương quốc thứ hai của mình. Vương quốc mà anh từng hứa với nhà vua và vương tử, vương nữ rằng mình sẽ chịu trách nhiệm, nhờ có anh mà giành được thắng lợi vang dội hơn bao giờ hết.
Nếu đã như vậy, vào ngày hôm nay, khi nỗ lực đánh cược chút sinh mệnh cuối cùng để gượng dậy nhằm bảo đảm không một ai phải bỏ mạng một cách vô ích tạm thời sụp đổ—trong một kiếp sống không ngừng luân hồi và tan vỡ giống hệt như phương thức của tiền kiếp—liệu anh có thể chấp nhận số phận của mình trong chốc lát được không? Vì vậy, anh quyết định chạm trán xuống mặt đất và nghỉ ngơi một lát.
Thế nhưng, nếu ở nơi tận cùng của tầm mắt đang hướng về lòng đất mẹ lại vướng bận một ký ức và lời khẩn cầu cách đây không lâu, và nếu điều đó đã trì hoãn việc buông xuôi trong một tích tắc, thì việc anh không thể nghỉ ngơi chính là ý chí của ai đây?
Di chuyển đến Augsburg. Đó là điều tiên quyết trước khi gặp Lukas.
Khoảng mười lăm phút trước, Leonard đã nghĩ như vậy. Và khi khoảng mười phút trôi qua kể từ lúc đó, ngay khi vừa nhận được tin báo về chiến thắng vang dội của Nikolaus Ernst từ phòng chiến lược của quân đội Vương quốc Bayern, Leonard biết rằng quyết định của mình đã đúng và giờ là lúc phải đi quân bài tiếp theo.
Lukas không hề hoảng loạn ngay cả sau khi nghe thấy lời tuyên cáo của Pleroma mà vẫn tiếp tục di chuyển đến mục tiêu tiếp theo. Cho dù nhiệm vụ thực tế của anh đã kết thúc, anh vẫn hành động như vậy. Tại sao ư? Bởi vì anh đã hạ quyết tâm tự tay biến chiến dịch này thành một thắng lợi huy hoàng. Chiến dịch càn quét 7 giáo khu Pleroma vốn là một chuyện hoang đường bất khả thi. Xét theo thực tế, Leonard từng nghĩ chỉ cần phá hủy được một nửa của hai đến ba giáo khu thôi đã là may mắn lắm rồi.
Thế nhưng, Nikolaus Ernst đã tuyên bố sẽ biến điều không thể thành có thể, và anh thực sự đã làm được.
Kỹ thuật mà anh hợp tác với ai đó để có được, sự chi viện mà chính Leonard phải vất vả thuyết phục sự đồng thuận từ Catacomb mới giành được, từng chi tiết nhỏ trong kế hoạch, khả năng phán đoán tình huống tại hiện trường, loại thuốc ứng phó Atropos nhanh chóng giúp hiện thực hóa tất cả những điều này, cho đến hệ thống vận hành bấy lâu nay của Bayern—tất cả mọi yếu tố đều góp phần vô cùng to lớn tạo nên thành công, nhưng người chịu trách nhiệm tổng thể vẫn là Nikolaus Ernst.
Dù là xét về lâu dài hay trong ngắn hạn, anh chính là nhà lãnh đạo thực tế của chiến dịch này. Dẫu cho mọi bánh răng có khớp nhau và cùng vận hành đi chăng nữa, vẫn cần phải có một người đứng ở trên cao để bao quát và giám sát toàn cục, và việc không quên đi trách nhiệm đó vừa là mỹ đức vừa là nghĩa vụ.
Nikolaus Ernst đã làm được điều đó ngay trong một hoàn cảnh mà đến cả việc nhận thức được mỹ đức hay nghĩa vụ cũng là một thử thách xa xỉ. Không phải anh không hoảng sợ, mà là dẫu có rơi vào trạng thái chấn động, anh vẫn tìm ra nghĩa vụ của mình và lập tức lao về phía trước. Lukas mà Leonard biết là một con người kiên cường như thế, và Leonard hiểu rằng việc cản trở quyết định của người bạn thân kiêm đồng đội này hoàn toàn không phải là cách thể hiện sự tôn trọng đối với anh.
Điều đó sẽ không giúp anh đạt được mong muốn, mà chỉ khiến anh phải chịu đựng cú sốc kéo dài mà thôi.
Thế nhưng, một người đang dốc cạn kiệt chút sức tàn cuối cùng để lao đi và một người đang giữ được sự bình tĩnh, xét về mọi mặt, vốn là hai trạng thái hoàn toàn khác biệt. Sau khi anh đạt được mục tiêu của mình, nhất định phải giúp anh không bị kiệt sức mà gục ngã. Leonard biết mình phải đi đâu.
[Thái tử Điện hạ.] Trong lúc cậu vẫn đang phòng ngự trước những đợt tấn công truy đuổi của Pleroma trong hệ thống tọa độ còn sót lại của chúng, giọng nói của người bạn thanh mai trúc mã bỗng vang lên. Vì ở hai đơn vị khác nhau nên đáng lẽ không thể kết nối trực tiếp, nhưng Elias chắc hẳn đã ban mệnh lệnh gì đó cho phòng chiến lược để thiết lập đường truyền tới chỗ Leonard. Cậu ta hỏi bằng một chất giọng nghe có vẻ khác hẳn ngày thường: [Ngài Ernst đang ở đâu?] Phía sau đầu dây bên kia văng vẳng tiếng tấn công và phòng thủ dồn dập. Leonard thừa biết tình hình hiện tại. Đó là việc dọn dẹp những tàn dư cuối cùng trước khi chính thức kết thúc chiến dịch. Chính Leonard cũng đang thực hiện công việc tương tự. Cậu liền nói ra lộ trình di chuyển của Lukas theo dự đoán của mình:
"Nürnberg, còn sau đó thì tôi cũng không biết nữa. Sau khi đón được cậu ấy ra ngoài, tôi sẽ báo lại."
Không biết nghĩa là sao, và đón ra ngoài lại có hàm ý gì? Dẫu có đầy rẫy sự hiếu kỳ, nhưng xứng danh là một người bạn tri kỷ chí cốt, Elias không hỏi thêm câu nào mà lập tức ngắt liên lạc. Niềm tin dành cho nhau vào những khoảnh khắc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại vô cùng cốt lõi như thế này bất ngờ giúp họ cảm nhận được sự hiện diện của đối phương.
Nó khiến Leonard một lần nữa nhận ra rằng bản thân không hề đơn độc chống chọi với những sóng gió chưa từng đối mặt trên thế gian này, từ đó tiếp thêm một chút sức mạnh mỏng manh để thúc đẩy thân xác tiếp tục tiến bước. Người bạn kia chắc hẳn cũng thế. Suy nghĩ của cậu nhanh chóng quay trở lại với vấn đề chính.
Lukas đã chiến thắng theo một phương thức mà không một ai có thể hiểu nổi. Điều đó vốn dĩ là bất khả thi. Chẳng lẽ hôm nay do tác động của adrenaline mà anh đã sử dụng thần lực một cách không kiêng dè để thổi bay tận 11 giáo khu bên ngoài lãnh thổ Bayern sao? Có khả năng đó, nhưng vô cùng thấp. Chắc chắn phía Pleroma sẽ có những đợt phản công quyết liệt, nếu giải quyết hai, cùng lắm là ba hay bốn giáo khu thì còn có lý, chứ vượt xa con số đó thì khó lòng thực hiện được. Leonard hiểu rõ.
Sự chói sáng giúp anh biến điều không thể thành có thể trước hết xuất phát từ chính con người anh, nhưng thứ hai, nó cũng được hiện thực hóa nhờ vào năng lực đặc biệt còn sót lại trong lõi. Có lẽ cả hai đều bắt nguồn từ một bản chất. Dù sao đi nữa, ít nhất Leonard cùng người bạn thanh mai trúc mã của mình chắc chắn biết rõ một điều: Anh rõ ràng đã hấp thụ sức mạnh của Pleroma. Sức mạnh ư? Sức mạnh ở đây là ma lực hay vitriol? Nếu vậy thì anh đã giết sạch bọn họ rồi sao?
Nếu bộ dạng đó bị phơi bày trước mắt tất cả mọi người... Chuyện đó tuyệt đối không thể xảy ra.
Nếu vậy, chẳng lẽ thứ anh hấp thụ... chính là ý chí của bọn họ sao? Ngay khi suy nghĩ này nảy ra trong đầu, Leonard cảm thấy một luồng khí lạnh buốt dọc từ tim lên đến gáy, rồi đóng băng cả đại não.
Oàng!
Leonard, người đang vung kiếm chiến đấu, ghì chặt chân xuống đất để chặn đứng đà lùi bước đang tăng tốc, nhanh chóng vạch ra chiến lược đối phó trước một tên Pleroma lấy lửa làm năng lực đặc hữu. Cậu đã quá ngán ngẩm tiếng gọi yêu cầu chi viện thêm nhân lực rồi. Chúng còn muốn cầm chân cậu đến bao giờ, còn muốn trì hoãn bao lâu nữa đây? Có nên sử dụng năng lực đặc hữu không? Cậu nghĩ thời cơ đã đến. Dẫu có vài pháp sư của quân đội vương quốc trợ chiến, nhưng phía đối phương cũng đông đảo không kém.
Hỏa ma sẽ biến thực vật thành tro bụi. Sự khắc chế thuộc tính này chẳng mấy tốt đẹp gì cho cậu. Nếu ngọn lửa bén xuống dưới lớp thực vật và thiêu rụi các hạt giống, Leonard sẽ phải mất rất nhiều thời gian mới có thể kích hoạt lại sinh mệnh lực của chúng.
Dù vậy, chẳng có lý do gì để chần chừ cả, Leonard thầm nghĩ. Khi những giọt vitriol bùng cháy thành lửa tán ra dày đặc rồi lao thẳng về phía y phục và da thịt cậu, cậu nhận ra một điều đáng mừng là ma pháp phòng ngự màn chắn của mình có sự khắc chế rất tốt đối với những kẻ quá phụ thuộc vào năng lực đặc hữu. Một tiếng nổ lớn lại vang lên. Ngay dưới chân Leonard vừa dậm xuống, thực vật từ bốn phương tám hướng điên cuồng quấn chặt lấy nhau. Ngọn lửa bắt đầu bén vào lớp thực vật với tốc độ nhanh hơn tưởng tượng.
Không chỉ đơn thuần là khả năng phóng hỏa, mà việc khiến ngọn lửa đó bùng cháy dữ dội hơn chắc chắn cũng là một phần trong năng lực đặc hữu của tên kia.
Càng nghĩ, cậu càng thấy rùng mình trước sự thật rằng Nikolaus Ernst đã bẻ gãy đợt tấn công của những chức sắc cao cấp này chỉ trong một đòn duy nhất để giành chiến thắng. Đó chẳng phải là gầy dựng tất cả và phá hủy tất cả chỉ bằng một cái búng tay sao? Dẫu biết rõ thực tế không hẳn là vậy, nhưng điều đó vẫn mang lại cảm giác như một ý chí kiên định không còn muốn dung thứ cho những cuộc tranh giành đấu đá của nhân gian nữa.
Chắc hẳn vào lúc này, tất cả những ai nhận được tin tức phi thực tế ấy đều đang bàng hoàng trong kinh ngạc, để rồi sùng bái và reo hò gọi tên anh. Leonard biết rõ đây chắc chắn là một kết cục tốt đẹp, thế nhưng trong lòng cậu lại dâng lên một nỗi bất an khôn tả. Và rồi...
Lớp thực vật của Leonard bị thiêu thành tro bụi rồi tan biến. Nếu vậy, cách giải quyết vô cùng đơn giản. Kẻ không hiểu quy luật giản đơn này mà chỉ biết dựa dẫm vào sự khắc chế của năng lực đặc hữu thì quả thực là một kẻ mù tịt về cảm quan chiến đấu. Nếu tốc độ sản sinh thực vật còn nhanh hơn cả tốc độ chúng bị thiêu thành tro thì sao?
Ầm ầm ầm!
Sức công phá của thực vật lao đi như dòng sông cuộn sóng trong ngày bão táp, lấp đầy tầm mắt trong thoáng chốc bằng một màu xanh lục còn đậm đặc hơn cả lớp bụi xám. Cậu lao thẳng về phía chúng rồi lướt nhanh qua một bên. Tập trung thực vật lại một chỗ thì tỷ lệ thành công sẽ rất thấp. Chẳng phải đối phương sẽ gặp khó khăn hơn khi phải đối phó với những đòn tấn công phân tán sao? Từng nhánh cây, từng cành củi đơn lẻ lao vun vút đến bên cạnh tên Pleroma rồi trói chặt hắn từ phía sau.
Lượng vitriol phun trào từ cơ thể tên chức sắc cố gắng thu hồi ngọn lửa ngay lập tức, và hắn sẽ sớm thành công thôi. Thế nhưng, một khi đã xuất hiện điều kiện "sớm muộn", thì cục diện đã ngã ngũ rồi.
[Thưa anh em, nếu có người nào vô tình phạm lỗi—] Leonard thì thầm.
[Điện hạ, tôi đã tìm thấy đòn bẩy rồi!] Một tiếng hét vang lên qua artifact. Cậu liếc mắt thấy một thuộc hạ đang chỉ tay về hướng vị trí đó, nhân cơ hội ấy liền tấn công vào tay của một tên Pleroma.
[Anh em là những người thiêng liêng, hãy lấy tinh thần ôn hòa mà sửa dạy kẻ ấy, và chính anh em cũng phải thận trọng kẻo mình cũng bị cám dỗ!] Trong lúc tên Pleroma đang ôm lấy cổ tay, thanh kiếm của cậu đã đâm thẳng vào tim hắn. Điều tương tự cũng diễn ra thông qua những lưỡi kiếm của thuộc hạ cấp dưới. Leonard một lần nữa đạp mạnh xuống đất. Một bức tường chắn bằng bụi gai chằng chịt đan xen hiện ra chặn đứng lối đi.
Cậu nhảy vọt lên như bay, thoát ra ngoài qua lối đòn bẩy rồi di chuyển đến một nơi mà Pleroma không thể lùng sục được. Sau khi tập hợp toàn bộ lực lượng lại một chỗ, cậu vừa kiểm đếm quân số vừa tiến hành báo cáo.
"Kính thưa Đức Vua tôn kính, Trung đoàn Bộ binh Hoàng gia số 2 Bayern xin báo cáo. Vào lúc 18 giờ 32 phút ngày 15 tháng 4, chúng tôi đã thành công tiêu diệt hoàn toàn giáo khu Augsburg. Khi chưa có mệnh lệnh tiếp theo..."
Leonard không nói rằng mình sẽ rút quân về. Cậu trầm ngâm trong chốc lát, và Oettingen liền lên tiếng không đợi lấy một giây: [Có chuyện gì vậy, thưa Điện hạ?]
"Tôi có điều muốn hỏi."
[Xin mời Người nói, thưa Điện hạ. Tuy nhiên, vì vụ việc của Công tử Lukas Askanier Anhalt đang khiến toàn bộ lục địa chấn động, một cuộc họp khẩn cấp sẽ được triệu tập. Tôi có nên cung cấp tọa độ hồi quy trước cho Người không?] Leonard không trả lời là có hay không. Cậu hỏi tình hình hiện tại ra sao. Oettingen thao thao bất tuyệt đọc báo cáo hiện trạng bằng một chất giọng nghiêm nghị. Không thể kiên nhẫn nghe hết, cậu đành phải cắt ngang lời ông ta:
"Phía trước Nürnberg, tọa độ tạm thời của khu vực mà chúng ta đã thoát ra từ giáo khu Bamberg là bao nhiêu?"
Oettingen thoáng chút ngỡ ngàng rồi mới đọc tọa độ. Vừa nắm được thông tin, cậu liền lập tức dịch chuyển đến đó. Giọng nói đầy tự hào của Oettingen vang lên bên tai, bảo rằng Nikolaus Ernst đã có mặt tại vị trí đó từ một phút trước và đang đáp lại tiếng reo hò chúc tụng của người dân. Cậu chẳng rõ anh có thực sự đang chào hỏi họ hay không.
Điều duy nhất Leonard nhìn thấy là dòng người đông đúc đang đổ dồn về phía trung tâm theo hình phóng xạ, vô số người đứng trên các ban công và bên trong các tòa nhà đang cuồng nhiệt vẫy cao lá cờ Bayern, và ngay chính giữa trung tâm ấy là một vị pháp sư với vóc dáng cao ráo đang đứng ngửa mặt nhìn lên bầu trời. Khung cảnh ấy chẳng khác nào một ngày lễ Phục sinh đại cát. Bầu không khí lễ hội được tìm lại, những cử chỉ chúc phúc đong đầy... khiến Leonard thẫn thờ mất một lúc.
Thời gian như bỗng chốc kéo dãn ra trong một tích tắc.
Dù không thể nhìn thấu biểu cảm của vị pháp sư đang đeo mặt nạ kia, Leonard vẫn linh cảm thấy có điều gì đó bất ổn đang xảy ra. Cho dù đó có là một sự ngộ nhận, cậu vẫn tin vào trực giác của mình. Ngay khi vị pháp sư bắt đầu gục đầu xuống, cậu nghe thấy tiếng hét của ai đó vang vọng từ sâu thẳm thâm tâm mình, liền đạp mạnh xuống đất lao như bay về phía trước. Cậu thấy vị pháp sư đang nắm chặt cây trượng và đổ người về phía mặt đất.
Leonard lập tức điều khiển cỏ cây và những nhành thân leo vươn dài ra để rẽ đám đông, rồi lao vào tóm chặt lấy người bạn của mình kéo ra ngoài. Cậu ghì chặt lấy bả vai anh, ngăn không cho cơ thể anh chạm xuống đất.
"Hãy nổi giận đi."
Hãy nổi giận đi—cậu không hiểu vì sao bản thân lại thốt ra lời đó, nhưng đồng thời cũng tự có câu trả lời. Con người này đã không hề tức giận trước một hoàn cảnh mà anh hoàn toàn có quyền được phẫn nộ. Hành động trong một tích tắc ấy của anh không giống như một cú ngã quỵ vì kiệt sức. Nó chẳng khác nào những lễ nghi Phật giáo mà chính Leonard từng được học thuở nhỏ, hoặc một dạng thệ nguyện trung thành mà các giáo sĩ Công giáo dâng lên Thiên đàng khi chấp nhận định mệnh của mình.
Dù thuộc về tôn giáo nào đi chăng nữa, hành động đó tuyệt đối không phải là thứ nên phơi bày vào lúc này. Chắc chắn anh không hề có ý định quy y cửa Phật hay gửi gắm thân xác cho Thần linh đâu, cậu tự nhủ bản thân phải tin vào điều hiển nhiên đó. Dù có nghĩ thế nào đi chăng nữa, anh cũng không được phép quỳ gối. Không được phép áp mặt xuống đất và nhắm nghiền đôi mắt lại. Đó chính là sự buông xuôi.
Sự hiện thực hóa bằng hình ảnh của sự cam chịu số phận, một lời tuyên cáo bằng cả cơ thể rằng mình sẽ sống theo ý muốn của định mệnh.
Lúc này đây, người bạn của cậu đáng ra phải tức giận, phải đau buồn, phải đứng dậy và hướng mắt về tương lai phía trước. Đó mới là dáng vẻ của Lukas Askanier mà Leonard vẫn luôn biết kể từ mùa thu năm ngoái. Không phải cậu nghĩ rằng người bạn của mình đã trở nên yếu đuối.
Chỉ là, một con người vốn dĩ kiên định và cứng rắn đến nhường ấy lại chọn cách gục ngã vào ngày hôm nay—không phải do phải chịu đựng bất kỳ đòn tấn công ma pháp nào, mà là tự mình buông xuôi—điều đó đồng nghĩa với việc kết cục thực sự đã cận kề trước mắt, khiến trái tim cậu thắt lại trong nỗi sợ hãi và lo âu tột độ.
Liệu lúc này Lukas có biết được phản ứng của toàn bộ đất nước không? Chắc là anh không biết đâu. Nhưng dẫu không biết, anh hẳn cũng đã dự đoán được trước. Chắc chắn anh phải biết rõ, bởi cả đời này anh đã quá quen với việc bị bủa vây bởi những lời ra tiếng vào của dư luận bên ngoài... Nhưng liệu đó có phải là tất cả? Leonard hồi tưởng lại cái ngày hai đứa còn ngượng ngùng ngồi đối diện nhau trong cỗ xe ngựa, cùng nhìn vào tờ lá cải giật gân.
Cậu nhớ lại cái ngày cả hội tụ tập ở trường học và bàn tán về những tin đồn nhảm nhí xoay quanh Nikolaus Ernst. Lukas khi ấy luôn vô cùng kiên cường, thản nhiên đón nhận bầu không khí ngột ngạt như một lẽ dĩ nhiên. Anh không hề căng thẳng, cũng chẳng mảy may bận tâm. Vậy mà hôm nay, anh lại thà chọn cách nằm rạp xuống nền đất lạnh.
Leonard biết cách cứu người bằng cách tấn công kẻ địch. Và kể từ cách đây không lâu, cậu cũng đã học được cách cứu sống một mạng người bằng y thuật. Thế nhưng, cậu chưa từng được học cách kéo một người trở lại khi họ hoàn toàn khỏe mạnh về mặt thể xác nhưng lại tự mình bước đi trên con đường ngược chiều với sự sống. Trong đầu cậu, những lời răn dạy và trang sách của các bậc hiền triết từng đọc suốt bao năm qua vỡ tan thành bong bóng xà phòng.
Chúng chẳng mang một chút ý nghĩa nào trong việc cứu vớt con người lúc này.
Gót giày của Leonard nện mạnh xuống bãi đất bùn lầy lội đầy bụi bặm. Cậu bừa bãi đọc đại một tọa độ bất kỳ mà mình chẳng hề biết rõ. Đây là việc mà bình thường một người như cậu tuyệt đối sẽ không bao giờ làm. Thế nhưng, nếu kéo trục Z lên thật cao rồi lao xuống từ trên bầu trời...
Oàng!
Trong chớp mắt, cả hai đã xuất hiện ở một nơi khác. Tiếng xé gió vang lên rợn người hơn tưởng tượng. Leonard cảm nhận được màn chắn đang giảm thiểu tối đa lực va đập và sức cản đập vào cơ thể của hai người.
Thà rằng cậu cứ làm thế đi. Nếu không được, thì ít nhất hãy vì tớ mà làm thế. Leonard đang hành xử một cách vô lý và ngang ngược—điều mà ngay cả khi còn là một đứa trẻ cậu cũng chưa từng làm. Bắt người khác phải làm gì đó vì lợi ích của chính mình, liệu có lời lẽ nào ích kỷ và độc đoán hơn thế không? Đây chắc chắn không phải là lời có thể thốt ra từ miệng của một đứa trẻ từng ghét cay ghét đắng hai tiếng "Thái tử". Và lại càng không phải là điều mà một cậu khi đã trưởng thành nên nói.
Thế nhưng, cậu vẫn vùi đầu vào bả vai của người bạn thân và thốt lên:
"Thà rằng cậu cứ nổi giận đi. Làm ơn hãy làm vậy đi..."
Họ rơi xuống phía sau ngọn tháp của một ngôi nhà thờ nào đó ở Bayern, ngay trên phần mái dốc của tòa nhà màu đỏ nối liền với ngọn tháp ấy.
Pleroma rốt cuộc đã có mưu đồ gì? Để thao túng và làm đảo điên toàn bộ lục địa, chúng đã thành công hiện thực hóa điều đó thông qua những bài diễn văn trực diện hơn cả mong đợi. Và một cách đầy xảo quyệt, ẩn giấu sau sự trực diện ấy chính là phương thức ẩn dụ sâu sắc nhất: Chúng tự thú nhận rằng mình sẽ trở thành những kẻ thủ ác đích thân áp giải Đấng Ki-tô ra pháp trường. Chiến lược của chúng đã thành công, và đó là lý do vì sao Đế quốc lại rơi vào tình cảnh hỗn loạn này. Đúng thế, vậy thì tiếp theo sẽ là gì?
Chúng đang hiên ngang tuyên bố rằng mình sẽ là những kẻ góp công lớn vào việc đóng đinh Chúa Giê-su lên thập tự giá, rằng chúng sẽ dồn một con người vào cái danh Chúa Giê-su rồi ra tay sát hại anh ngay lúc này. Thế nhưng, chẳng một ai thèm suy nghĩ sâu xa đến mức đó. Leonard nghĩ về người đồng đội, người bạn đồng hành của mình—con người mà cậu luôn dùng cả trái tim để tin tưởng rằng anh chính là trục cốt lõi của công lý...
Giống như quan điểm của một vài học giả, và giống như một trong hai mặt tính chất mà vài người bạn của cậu thi thoảng lại hoài nghi nhưng cũng có lúc không tiếc lời ca ngợi: Công chúng, cũng như hầu hết mọi thực thể trên thế gian này, đều sở hữu cả hai mặt sáng và tối. Họ có thể dẫn dắt cả một thời đại bằng tầm nhìn tiên phong rực rỡ, nhưng đôi khi cũng có thể đẩy chính những thành viên của thời đại đó vào con đường diệt vong. Lịch sử luôn ghi dấu ký ức về cả hai khía cạnh ấy.
Đứng trước vận mệnh của người bạn thân, Leonard nhận ra mảng tối của tổ quốc mình vào chính ngày hôm nay của năm 1898. Điều đó xảy ra là bởi vì họ chưa bao giờ thực sự tư duy nên chẳng biết khi nào mình cần phải suy nghĩ; bởi vì họ không hiểu rằng tư duy về cơ bản phải tiên quyết dựa trên sự tự soi xét, để rồi bị dắt mũi hoàn toàn bởi lời lẽ của kẻ khác phụ họa theo các hiện tượng, lầm tưởng khả năng phán xét đúng sai sau khi nghe ngóng là tư duy của chính mình; và điều cốt lõi nhất là vì họ không muốn suy nghĩ.
Đối với những kẻ đang coi Lukas là tội đồ vào lúc này, việc đứng về phe chính nghĩa không phải là một công việc gian khổ và đòi hỏi sự kiên trì, mà trái lại, đó là một thú vui đầy khoái lạc. Thật là một thời đại nực cười cho cụm từ "hãy suy nghĩ". Chỉ có những thông tin mang tính kích thích mới có thể chạm tới dây thần kinh ngoại biên của họ. Mối quan hệ giữa sự thật và tính tất yếu hoàn toàn biến mất khỏi nhận thức của họ.
Tất cả bọn họ đều đồng loạt biến thành những kẻ nửa mùa hiểu biết chút ít về Pleroma, vờ vịt đưa ra những lời chỉ trích đầy chính nghĩa nhắm vào sự "bất công" mang tên Lukas Askanier. Thế nhưng trên thực tế, Lukas Askanier chẳng phải là loại ác nhân đến mức đó, và việc Pleroma đã tự mình công khai dự cáo về một vụ sát hại đáng ra phải khiến họ chú ý đến những ý kiến khuyên răn mỗi người nên cẩn trọng trong hành vi của mình, thì họ lại hoàn toàn ngó lơ xem như không tồn tại.
Mảng tối mà cậu cay đắng nhận ra ngày hôm nay rồi sẽ để lại tầm ảnh hưởng khủng khiếp thế nào vào năm 1908, năm 1918, năm 1928...? Cậu cảm giác như mình đang đứng trên một điểm tựa mỏng manh tựa như lớp kính bám trên khung cửa sổ gỗ đã mục nát từ lâu. Không chỉ riêng cậu, mà toàn thể nhân loại cũng đang đứng chung trên mảnh đất đó. Đối diện với một quả bom hẹn giờ đang đếm ngược, cậu chỉ biết ra sức ôm chặt lấy người bạn của mình. Cậu không có đủ dũng khí để nhìn thẳng vào gương mặt anh.
Một con người không cười khi đáng ra phải cười và không nổi giận khi đáng ra phải nổi giận vốn không phải là trạng thái tự nhiên của một sinh linh. Đó là một sự trưởng thành quá mức chịu đựng. Việc luôn giữ thái độ thờ ơ trước mọi sự, chấp nhận hoàn cảnh của bản thân và chỉ phản ứng mạnh mẽ khi đã dốc hết toàn bộ ý chí—đó là sự lựa chọn của một kẻ đã trải qua quá nhiều sự mài mòn và tổn thương. Leonard lờ mờ nhận ra một điều: Người bạn thân của cậu từng có một cuộc đời mà cậu hoàn toàn không hề hay biết.
Anh không phải là kiểu thiên tài sẽ dễ dàng gục ngã chỉ vì đối mặt với thất bại và thất vọng ngay trong lần thử đầu tiên. Giông bão của cuộc đời gõ cửa mỗi người một khác, bất kể tuổi tác, và chính việc lặp đi lặp lại những trải nghiệm đó sẽ khiến con người ta trở nên mạnh mẽ hơn. Sự kiên cường của Lukas trong mắt Leonard chính là loại sức mạnh như thế. Đó không phải là thứ quyền năng bẩm sinh khi vừa sinh ra đã có, mà là sự mạnh mẽ đầy nhẫn nhịn có được nhờ quá trình tự mài giũa và nỗ lực không ngừng nghỉ.
Thế nhưng, những nỗ lực lặp đi lặp lại chỉ đổi lấy những thất bại tuần hoàn, để rồi ngày hôm nay, anh chọn cách cam chịu chấp nhận thay vì tiếp tục chống chọi. Cậu cầu nguyện rằng đây chỉ là một sự ngộ nhận của chính mình.
Leonard nhận ra rằng dẫu bản thân lớn lên trong thế giới Công giáo, nhưng sự thay đổi trong thế quan vốn từ lâu đã âm thầm trỗi dậy trên khắp lục địa châu Âu—sự chuyển dịch tư tưởng của một thời kỳ mà Ki-tô giáo, thứ vốn là nền tảng cốt lõi cho mọi phương diện cuộc sống của tổ kiến họ, không còn có thể chi phối tất cả mọi điều trong cuộc sống nữa—đã song hành cùng cuộc đời cậu. Cậu không hề mong muốn trở thành một tín đồ tôn giáo. Bản thân cậu ư? Sai rồi.
Cậu không muốn người bạn thân yêu của mình phải hiến dâng cuộc đời cho con đường tôn giáo tôn nghiêm ấy. Hay nói cách khác, cậu không muốn anh phải sống một cuộc đời bị phụ thuộc hoàn toàn vào ý nguyện của Thần linh và định mệnh thay vì được tự do định đoạt bằng ý chí của chính mình. Cậu dám cả gan cầu nguyện cho một điều bất kính ngay trên nóc nhà thờ.
Leonard thông báo vị trí tương đối thông qua artifact, rồi giật phăng tất cả các artifact trên người mình và người bạn ra, bóp nát vụn trong lòng bàn tay. Đồng thời, cậu ôm chặt lấy anh như ôm lấy một vị Hồng y, lẩm bẩm như đang đọc Kinh Lạy Cha:
"Cậu đang thất vọng mà. Chẳng lẽ cậu không hề tức giận khi những nỗ lực mà mình đã dốc hết tâm huyết kể từ mùa thu năm ngoái lại đổ sông đổ bể thế này sao? Cậu sai rồi, Ernst. Đây chưa phải là kết thúc đâu. Chúng ta vẫn còn cơ hội chiến thắng cơ mà. Những gì còn lại đâu chỉ có bấy nhiêu."
Thực sự, trong suy nghĩ của Leonard, đây tuyệt đối không phải là điểm dừng. Giống như việc cậu đã cùng chuẩn bị một kế hoạch chu toàn cho chiến thắng của Elias, cậu cũng có thừa tự tin để dốc hết sức mình vì cuộc sống của Lukas. Thế nhưng, Lukas lúc này chỉ là quá mệt mỏi rồi.
"Cậu luôn biến những điều tớ mong ước thành hiện thực. Chỉ cần chúng ta hợp lực, không có gì là không thể làm được..."
Người bạn thân mỉm cười. Anh không hề nhắm mắt ngủ. Thế nhưng, mở mắt không đồng nghĩa với việc đang tỉnh táo, và còn thở không có nghĩa là tất cả đều đang sống. Nghe thấy một thanh âm tựa như tiếng gió rít, Leonard tiếp tục nói.
"Sao cậu lại cười?"
"Tớ không có ý định bỏ cuộc đâu."
Gương mặt trống rỗng phảng phất nụ cười khẽ khàng đáp lại đầy dịu dàng. Anh đang nói năng vô cùng rõ ràng, nhưng tâm trí anh dường như đang ở một nơi xa xăm nào đó. Leonard thở phào nhẹ nhõm vì ít nhất anh đã tìm lại được chút thần trí để cất lời, khóe môi cậu khẽ méo xệch đi:
"Vậy thì là sao?"
"Tớ chỉ muốn suy ngẫm một lát thôi."
Suy ngẫm về điều gì—dẫu không cần hỏi, Leonard vẫn tự biết mình phải nói gì. Cậu lắc đầu thầm thì:
"Đừng suy nghĩ gì nữa cả."
Leonard nhớ rất rõ vị pháp sư mà cậu nhìn thấy khi nãy hoàn toàn không ở trong trạng thái bình thường. Dẫu anh đang đứng sừng sững ở đó nhưng tâm trí lại như đang chìm đắm trong một giấc mơ, dẫu đang nắm lấy tay người khác nhưng linh hồn lại lơ lửng ở một nơi nào khác. Như thể anh đang đứng giữa một hoang mạc chất đầy xác người, hoặc đang đứng ở một ngày tháng từng hạnh phúc hiếm hoi, hay một ngày đầy rẫy sự tuyệt vọng như hôm nay... Anh một mình ngậm chặt miệng, nhưng thực chất đang giao tiếp với một ai đó.
Và đối phương hẳn chính là bản thân anh. Cậu không hề có ý đánh đồng rằng trong trạng thái như vậy thì những suy nghĩ của Lukas chỉ là những ảo tưởng vô giá trị. Leonard hiểu rõ hơn ai hết một người dễ dàng bị kẻ khác coi là kẻ điên thực chất có thể quan sát thế gian bằng một ánh mắt tinh tường và một trái tim ấm áp đến nhường nào, và có thể thốt ra những lời tỉnh táo đến mức nào từ một trực giác nhạy bén.
Cậu không bảo Lukas đã phát điên nên mọi suy nghĩ của anh đều là hoang tưởng vô ích, mà cậu có một trực giác nhạy bén rằng sự thấu thị có được từ cuộc đối thoại với chính mình dưới lớp mặt nạ điên cuồng kia chắc chắn là sự thật của riêng anh, và rằng suy nghĩ cùng kết luận đó tuyệt đối không phải là thứ có thể chấp nhận được mà không mang lại sự kinh hoàng.
Người bạn thân của cậu ngước đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Leonard và chậm rãi cất lời:
"Nghe này, Leonard. Tớ đã hiểu vì sao Thần linh lại ban dấu ấn cho Cain rồi."
Cậu rốt cuộc đang gọi tớ là cái gì thế hả? —câu nói đáng ra sẽ lập tức thốt ra theo thói quen ấy, hôm nay lại chẳng mảy may có ý định xuất hiện. Leonard nhắm nghiền mắt trước những lời lẽ thoạt nghe thì hoàn toàn không có đầu đuôi và chẳng thể hiểu nổi, nhưng thực chất lại ẩn chứa một hàm ý sâu xa. Người bạn thân của cậu cuối cùng cũng tuyên bố rằng mình đã tìm ra câu trả lời cho một chủ đề vốn được coi là một trong những bài toán nan giải nhất của Kinh Thánh.
Thuyết giảng của các nhà thần học về vấn đề này có rất nhiều, nên điều anh đang nói không phải là hiểu biết trên phương diện học thuật, mà là anh đã thực sự thấu cốt ghi tâm nó. Thông qua chính biến cố hiện tại.
Không, cậu không biết đâu. Cậu không thể nào biết được những điều đó. Trên đời này chẳng một ai có thể biết được. Cậu rất muốn thốt ra những lời như vậy. Không phải vì cậu thực sự tin rằng anh không thể biết, cũng không phải vì cậu muốn phớt lờ lời anh nói, mà là cậu muốn ngăn anh không được gục đầu xuống bùn đất. Cậu không muốn anh phải trở về với cát bụi theo cách như vậy.
"Cậu thực sự chuyện gì cũng có thể làm được nhỉ."
Leonard nhìn lên bầu trời, cảm thấy cổ họng mình nghẹn ắng lại, nhưng dẫu vậy cậu vẫn cố giữ giọng điệu bình thản để nói tiếp:
"Nếu đã vậy, cậu có thể làm điều này cho tớ được không?"
Không có tiếng trả lời nào đáp lại.
"Tớ luôn mong muốn cậu giành chiến thắng. Lợi ích quốc gia hay bất cứ điều gì khác, từ lâu tớ đã chẳng còn màng tới nữa rồi. Tớ chỉ muốn cậu tiếp tục sống sót, tớ chỉ khát khao duy nhất điều đó mà thôi."
Leonard cố nuốt ngụm nước bọt vào trong cổ họng đang khô khốc, tiếp tục khẩn khoản:
"Thế nhưng ngày hôm nay cậu đã không còn sức lực nữa rồi. Nếu đã vậy, lần này tớ sẽ là người mang lại chiến thắng cho cậu, cho nên..."
Leonard lại một lần nữa tỏ ra ngang bướng giống như lúc cậu bắt anh phải nổi giận. Cậu lặp lại sự vô lý đầy ích kỷ ấy:
"Hãy tiếp tục ở lại bên cạnh tớ đi."

Giữ khẩu khí thanh khiết — không văn tục, không phá chính trị.
Nhập môn